Trên chuyến tàu từ Trieste đến Vienna, Ernst trong toa riêng ngắm nhìn phong cảnh nông thôn nước Áo, hai bên đường sắt, cánh đồng lúa mì xanh, nông dân vội vã trên đường làng, xe bò chở hàng hóa, và những ngôi làng thỉnh thoảng xuất hiện.
Cảnh quan nông thôn Áo thực tế không khác mấy so với thời trung cổ, nếu không ngồi trong tàu hỏa, e rằng không cảm nhận được, đến mức mỗi lần Ernst đi tàu hỏa, đều có cảm giác rối loạn không-thời gian.
Phát triển quá tốc độ sẽ mang lại tình huống Ernst gặp phải, động lực mạnh mẽ từ cách mạng công nghiệp đang tích cực thay đổi xã hội châu Âu, và điều tương tự cũng xảy ra ở Đông Phi xa xôi.
……
Với sự có mặt của công nhân đường sắt, dự án đường sắt Đông Phi chính thức khởi động, lao động đường sắt bản địa được chia thành hơn hai mươi đoàn, chỉnh trang dọc tuyến đường sắt.
Gặp núi mở núi, gặp nước bắc cầu, dưới sự chỉ huy của kỹ thuật viên, dọc tuyến đường sắt dần dần được dọn dẹp.
Phía bắc dãy núi Muchinga, là trọng điểm đường sắt Đông Phi phải vượt qua, nơi đây có một vùng đầm lầy là khu vực đường sắt không thể tránh.
Và cách xử lý của chính phủ Đông Phi cũng đơn giản thô bạo, đó là sử dụng lượng lớn người da đen nạo vét thủ công khu vực này, hàng ngàn người da đen dưới sự đe dọa của súng trường dùng các vật chứa nước loại bỏ nước khỏi đầm lầy.
"Trong đầm lầy ngoài hà mã và cá sấu còn tiềm ẩn nguy hiểm khác, như rắn độc, những sinh vật này có mối đe dọa chết người với công nhân chúng ta, nên việc này chỉ có thể giao cho thổ dân."
"Đầm lầy này chỉ có thể dùng nhân công dọn dẹp, nếu theo tốc độ công trình bình thường ước tính mất vài tháng mới dọn sạch, nên chúng ta phải tranh thủ thời gian, hoàn thành đoạn này trước mùa mưa, ngăn mưa làm đầy lại."
Vì vậy, để ngăn ngừa tai nạn, người Đông Phi ép thổ dân làm việc ngày đêm, cố gắng hoàn thành dọn dẹp vùng đầm lầy trong hai tháng rưỡi.
Vì xây dựng đường sắt trung tâm, còn nhiều việc như vậy, như chặt rừng nguyên sinh, dọn chỗ cho đường sắt, dọn đá lớn chướng ngại vật.
Tại điểm bắt đầu đường sắt, đoạn kéo dài đầu tiên, lượng lớn nguyên liệu thô qua thân xác thổ dân, kéo vào nội địa, đường ray nặng ngàn cân hoàn toàn dùng nhân công vận chuyển, sơ suất nhỏ dễ gây tổn thương chết người.
Đồng thời để đảm bảo xây dựng đường sắt, Đông Phi xây ba nhà máy xi măng gần tuyến, hai mươi ba xưởng gỗ và mỏ đá, đồng thời xây nhà máy thép mới ở Kalabari, Zambia.
Năm 1873 sản lượng thép hàng năm của Đông Phi là 240.000 tấn, sau khi nhà máy thép Kalabari đi vào hoạt động sản lượng thép Đông Phi vượt 300.000 tấn.
Thực tế chỉ nhà máy thép thành phố Mbeya sau nâng cấp, sản lượng hàng năm tăng lên hơn 80.000 tấn, có thể đáp ứng phần lớn nhu cầu Đông Phi.
Tổng nhu cầu thép đường sắt Đông Phi khoảng 8 triệu tấn, mà sản lượng thép Đức năm 1873 tổng cộng khoảng 3-4 triệu tấn, nên nhập khẩu một phần thép từ Đức-Áo có thể tiết kiệm kha khá tiền.
Sản lượng thép Đông Phi thực tế cũng xếp hạng trên thế giới, nhưng so ra sản lượng than có phần không đủ, chỉ khoảng 1,5 triệu tấn, cùng kỳ Đức là 27 triệu tấn, Anh-Mỹ vượt trăm triệu tấn. Nhưng do ảnh hưởng khủng hoảng kinh tế, công suất thép và than các nước sẽ bị thu hẹp quy mô lớn, so ra Đông Phi bước vào giai đoạn tăng trưởng nhanh.
Ngoài nhu cầu thép lớn từ xây dựng đường sắt, nhu cầu xưởng đóng tàu Đông Phi cũng khá lớn, xưởng đóng tàu Bagamoyo tuy không đóng được thiết giáp hạm ngàn tấn, nhưng cũng nhận đơn đặt hàng hơn chục tàu pháo với sự ưu tiên của Ernst, và tàu pháo Đông Phi thường trên 400 tấn.
Xưởng đóng tàu nội địa cũng không thể xem nhẹ, đến 1873, xưởng đóng tàu nội địa Đông Phi đã mở rộng đến 37 nhà, ngoài vài hồ lớn, sông Zambesi, lưu vực sông Congo có nhu cầu mạnh nhất.
Bỏ qua hai ngành đường sắt và đóng tàu, tiếp theo Đông Phi sẽ đưa vào một loạt nhà máy, nhu cầu thép sẽ ở giai đoạn khá mạnh.
Đây là một số dữ liệu cơ bản của Đông Phi trước khi xây đường sắt, sau khi đường sắt hoàn thành, xây dựng khu công nghiệp phía nam trọng điểm (Zimbabwe), và khai thác ngành đồng Zambia, tăng trưởng công nghiệp Đông Phi mới thể hiện mức phát triển thực trong khủng hoảng kinh tế.
Thực tế Ernst cũng muốn học kế hoạch công nghiệp năm năm, nhân gió khủng hoảng để Đông Phi cất cánh, nhưng điều này với Đông Phi hoàn toàn không thể.
Người bình thường nhìn kế hoạch năm năm, cảm giác mình làm cũng được, nhưng thực tế kế hoạch năm năm chỉ có hai ví dụ, một là Sa Hoàng, một là Viễn Đông, kế hoạch năm năm đầu của Sa Hoàng bắt đầu 1928, kế hoạch năm năm đầu Viễn Đông thậm chí 1953 mới bắt đầu.
Trong sách giáo khoa, như thể kế hoạch năm năm đầu hoàn thành, hai nước thoát khỏi thân phận nước nông nghiệp, Liên Xô sau khi hoàn thành kế hoạch năm năm thứ hai trực tiếp vươn lên thành nước công nghiệp quan trọng thế giới.
Thực tế thời Sa Hoàng, Sa Hoàng đã có hệ thống công nghiệp hoàn chỉnh, như hiện nay, Sa Hoàng đã là nước dệt may lớn thứ năm thế giới, còn có mấy vạn km đường sắt, hơn ba ngàn nhà máy, trước Liên Xô thậm chí đạt gần một vạn nhà máy, hơn ba triệu công nhân.
Hiện tại Sa Hoàng đã là một liệt cường, có thể kém đến đâu? Chỉ có thể nói Liên Xô là kích hoạt hoàn toàn tiềm lực Sa Hoàng, để Sa Hoàng trong lịch sử tiếp cận nhất thế giới.
Trình độ công nghiệp Viễn Đông kém, nhưng thời vận động Dương Vụ cũng xây một số doanh nghiệp quân sự và quan doanh, thời Bắc Dương đến Dân Quốc cũng phát triển một số tư bản dân gian, đến sau 1953, bản thổ thực ra có một số chuyên gia, cộng với viện trợ Liên Xô, mới miễn cưỡng thực hiện công nghiệp hóa sơ bộ.
Ernst có thể khẳng định, cơ sở Viễn Đông năm 1953 chắc chắn tốt hơn cơ sở Vương quốc Đông Phi hiện tại, lãnh đạo cũng có năng lực hơn Vương quốc Đông Phi, mà kế hoạch năm năm đầu Viễn Đông còn thực hiện khá khó khăn.
Vì vậy điều kiện hiện tại Đông Phi, tổng số nhà máy là hơn 170, và chủ yếu là chế tạo thô công nghệ thấp, trình độ giáo dục dân chúng hoàn toàn không thể hỗ trợ phát triển công nghiệp.
Như kinh tế kế hoạch, chủ yếu thể hiện ở chữ kế hoạch, lập kế hoạch và thực hiện kế hoạch, là cực kỳ thử thách năng lực thực thi của một quốc gia. Nếu Ernst muốn làm kế hoạch năm năm, vấn đề đầu tiên là giải quyết nhân tài, những thứ này cần nhân tài chất lượng cao thực hiện.
Vương quốc Đông Phi phát triển nông nghiệp, trình độ năng lực quan liêu còn đáp ứng miễn cưỡng, nếu làm công nghiệp, thì khá làm khó họ. Còn công nghiệp hiện có Đông Phi, đều là nhân tài tràn ra từ vùng Đức thực hiện, quản lý nhà máy Hechingen đều đào hoặc thuê từ Đức-Áo, nói cho cùng vẫn là vấn đề người không được.
(Hết chương)
Chú thích: [1] Vận động Dương Vụ: Phong trào tự cường của nhà Thanh cuối thế kỷ 19 nhằm hiện đại hóa quân sự và công nghiệp. [2] Quan doanh: Doanh nghiệp nhà nước thời phong kiến.
------oOo------