Chiến sự tạm thời kết thúc, thuộc địa Đông Phi trở lại guồng quay bình thường.
Trong thời chiến, việc phải liên tục đưa dân di cư ra tiền tuyến là thách thức quá tải đối với Đông Phi.
Vì vậy, cỗ máy chiến tranh này cũng cần thời gian nghỉ ngơi. Vốn dĩ Đông Phi chỉ là thuộc địa nông nghiệp, nên khả năng hỗ trợ quân sự quy mô lớn cũng chỉ mạnh hơn chút so với các quốc gia nông nghiệp truyền thống.
May mắn thay, Đông Phi thuộc địa còn đang trong giai đoạn sơ khai, diện tích đất đai rộng lớn, bình quân diện tích đất canh tác trên đầu người cao, do đó sản lượng lương thực tổng thể cao, vừa đảm bảo được tự cung tự cấp, vừa có thể mạnh mẽ hỗ trợ cho các hoạt động của người di cư và quân đội.
Quân đội cần nghỉ ngơi, người di cư mới đến khu vực phía Tây cũng cần khẩn trương bắt tay vào sản xuất, tranh thủ canh tác càng sớm càng tốt để tạo ra giá trị; đồng thời các khu vực khác ở Đông Phi cũng cần đẩy mạnh việc khai hoang đất đai.
Trong hai tháng qua, Đông Phi đã tiếp nhận 170.000 dân di cư (con số này không hề phóng đại, tham khảo từ năng lực vận chuyển nô lệ của tàu Anh. Vấn đề của Đông Phi không phải thiếu phương tiện vận tải, mà là nguồn cung dân di cư, đặc biệt là người gốc Đức). Toàn bộ được bố trí tại vùng chiếm đóng mới Tây Bắc, khu Tây Kenya và thị trấn Omorat.
Nếu 170.000 dân này được phân bổ đều cho các điểm thuộc địa đã xây dựng, chắc chắn Đông Phi sẽ phát triển vượt bậc.
Nửa đầu năm 1868, Đông Phi đã tiếp nhận hơn 500.000 người di cư. Chỉ tính riêng sáu tháng đầu năm, đã gần đạt chỉ tiêu 600.000 người mà Ernst đặt ra vào cuối năm trước cho cả năm.
Hiện tại, dân số Đông Phi đã đạt 1,2 triệu người, diện tích đất liền vào khoảng 1,5 triệu km². Ngoài ra, khu vực tiền kiếp là Uganda cũng đã nằm trong tầm với, thêm vào hơn 200.000 km² nữa.
Dự kiến trước cuối năm có thể nuốt trọn. Nếu hoạt động di cư thuận lợi, ít nhất sẽ đạt 1,7 triệu dân.
Việc dân số vượt mốc triệu người khiến Ernst giờ đây hoàn toàn không còn lo lắng. Một triệu không chỉ là con số, mà còn là liều thuốc an thần. bởi vào thời đại này, những quốc gia có dân số vượt triệu đều là thế lực không thể xem thường.
Thế kỷ 17, Hà Lan trỗi dậy với dân số hàng triệu.
Thế kỷ 19, Anh vươn lên với dân số hàng chục triệu.
Thế kỷ 20, Mỹ trỗi dậy với dân số hàng trăm triệu.
Vượt qua mốc triệu dân, thuộc địa Đông Phi đã có thể đứng vững ở châu Phi, ít nhất xếp thứ tư về thực lực trong khu vực.
Đứng đầu tất nhiên là Vương triều Muhammad Ali của Ai Cập dưới danh nghĩa lãnh thổ Đế quốc Ottoman.
Những người am hiểu lịch sử đều biết cải cách Muhammad Ali đã đưa Ai Cập vào giai đoạn phú quốc cường binh, thậm chí đánh bại chính mẫu quốc Ottoman.
Sau này, vì sự can thiệp của Anh và Pháp mà Ottoman mới được "cứu vớt", Ai Cập cũng vì thế rơi vào trạng thái bán thuộc địa trở lại.
Dù cải cách thất bại, nhưng Ai Cập đã bước một chân vào công nghiệp hóa, quân đội cũng hoàn thành hiện đại hóa. Vì vậy sức mạnh tổng hợp của Ai Cập hiện tại xứng đáng đứng đầu các thế lực bản địa châu Phi.
Lãnh thổ Ai Cập lúc này còn bao gồm Sudan (cả Nam Sudan), trên thực tế đã tiếp giáp với thuộc địa lưu vực sông Omo ở Tây Bắc Đông Phi.
Về mặt quân sự, Đông Phi chưa chắc đã sợ Ai Cập, nhưng không toàn diện bằng: Ai Cập có cả công nghiệp lẫn nông nghiệp, hải quân, thậm chí tự chủ một phần vũ khí trang bị.
Thứ hai là Pháp. Không cần bàn nhiều, chỉ xét khoảng cách giữa thuộc địa Bắc Phi (Algeria) với chính quốc Pháp, nói Pháp là thế lực mạnh nhất châu Phi cũng không sai.
Dù sao Pháp chủ yếu mở rộng ở Bắc Phi và Tây Phi, không đụng chạm gì đến Đông Phi. Thuộc địa gần Đông Phi nhất của Pháp là quần đảo Comoros và Madagascar, cách biệt bởi Ấn Độ Dương.
Vị trí thứ ba là Anh. Cũng giống như Pháp, sức mạnh nằm ở hải quân. Trên toàn thế giới, ngoài các cường quốc, không nước nào sánh được với hai quốc gia này.
Tại sao không xếp Anh-Pháp trước Ai Cập? Vì hai nước này không thuần túy là quốc gia châu Phi.
Nếu chỉ tính lực lượng bản địa, đứng đầu là Ai Cập, thứ hai là Đế chế Abyssinia, thứ ba... ngay cả Ernst cũng không biết là ai.
Với sự hậu thuẫn từ quốc lực Anh-Pháp, Đông Phi đương nhiên không dám gây sự. Nhưng đối mặt với người Boer và Bồ Đào Nha thì hoàn toàn không ngán.
Nếu đắc tội Anh-Pháp, Đông Phi chỉ có nước ăn đòn, muốn trả đũa cũng không ra khỏi Ấn Độ Dương. Nhưng với các thế lực còn lại thì khác: người Boer chỉ vài chục vạn dân, người Bồ Đào Nha ở Mozambique tính cả thương nhân và dân di cư chắc chỉ hơn vạn (có lẽ chỉ vài ngàn).
Đông Phi thuộc địa ngang cơ với họ. Còn chuyện Vương quốc Bồ Đào Nha viện trợ Mozambique, nghe cho vui thôi! Không kéo vài chục vạn quân sang, Ernst còn chẳng thèm liếc mắt.
Chiến tranh đâu cần bản thân xông pha, chỉ cần dân di cư đông thì quân đội sẽ nhiều. Và quân đội chính là chỗ dựa của Ernst ở Đông Phi.
Dĩ nhiên hiện tại Đông Phi hoàn toàn không cần xung đột với các thế lực trên. Châu Phi còn vô số đất hoang chờ khai phá.
Trước khi các cường quốc để mắt tới châu Phi, thuộc địa Đông Phi có thể thoải mái mở rộng, đối thủ chỉ là các thế lực thổ dân.
Mà thổ dân không có ngoại viện thì căn bản không phải đối thủ của Đông Phi.
Đừng thấy Đông Phi phát triển thuận buồm xuôi gió, bành trướng thần tốc mà tưởng dễ dàng. Đó là kết quả của những ngày tháng nơm nớp lo sợ của Ernst.
Thuộc địa Đông Phi chỉ là ảo giác Ernst tạo ra bằng thân phận gia tộc Hohenzollern, khiến thế giới lầm tưởng đây là nỗ lực thuộc địa hóa hải ngoại của Phổ.
So với việc Phổ dồn sức khai thác thuộc địa, các nước lo ngại hơn việc Phổ thống nhất nước Đức. Vì vậy sự bành trướng của Đông Phi mới được Anh-Pháp làm ngơ.
Bản thân Phổ cũng không có tâm trí quan tâm chuyện hải ngoại. Giới lãnh đạo Vương quốc đang chuẩn bị mọi mặt để thống nhất nước Đức. Còn chuyện hoàng tộc Hechingen khai phá châu Phi, miễn là không khiến Phổ tốn tiền tốn sức thì thôi. Hơn nữa hoàng tộc Hechingen là "người nhà", thuộc địa ở châu Phi rốt cuộc vẫn phải hướng về chính quốc.
Nga Sa hoàng khỏi phải bàn, toàn bộ lợi ích của họ nằm ở lục địa Á-Âu.
Đế quốc Áo-Hung thì ủng hộ Ernst. Áo-Hung không có sức lực mở rộng hải ngoại, lại có quan hệ cực tốt với Ernst - gần như thành người một nhà. Việc Ernst tuyển dân di cư trong lãnh thổ Áo-Hung không chỉ có lợi cho Áo, mà còn tốt cho Hungary, ổn định cai trị. Nhiều yếu tố khiến Áo-Hung ủng hộ hoạt động thuộc địa của Ernst.
Nhưng ủng hộ là một chuyện, Áo-Hung cũng chỉ làm vừa lòng Ernst mà thôi. Ngoài việc nới lỏng chính sách di cư, chẳng có lợi ích thực tế nào.
Tóm lại, Đông Phi thuộc địa không thể trông cậy vào bất kỳ quốc gia nào. Hoàn toàn đổ về một phía chỉ chuốc lấy diệt vong.
Vì vậy chỉ có thể dựa vào dân di cư, xây dựng quân đội để tự vệ. Mà dân di cư cũng phải có tiêu chuẩn, nếu thu nhận bừa bãi, khi đế quốc chủ nghĩa gõ cửa, họ chắc chắn sẽ làm tay sai.
Đó cũng là lý do vì sao quá trình di cư vào Đông Phi diễn ra chậm. Nếu không quan tâm đến chất lượng, mỗi năm thu hút 2–3 triệu người cũng không phải chuyện khó. Nhưng đến nay Đông Phi thuộc địa mất tới 2 năm rưỡi mới đạt mốc 1,2 triệu dân — đó là kết quả của việc Ernst cố tình nâng cao tiêu chuẩn tuyển chọn.
(Hết chương)
Chú thích: [1] Abyssinia: Tên gọi cũ của Ethiopia, từng là đế chế Kitô giáo hùng mạnh ở Đông Phi. [2] Boer: Cộng đồng người Hà Lan định cư ở Nam Phi từng lập ra nhà nước cộng hòa ở đây.
------oOo------