Nhân lúc đình chiến, thuộc địa Đông Phi tranh thủ củng cố lại hệ thống đường sá trong lãnh thổ.
Một tay trắng khởi nghiệp, điều này không phải lời nói suông. Các quốc gia khác khi muốn công nghiệp hóa, ít nhất cũng có nền tảng từ thời kỳ nông nghiệp hoặc được các cường quốc hậu thuẫn phía sau.
Đường sá, cầu cống, hệ thống tưới tiêu nông nghiệp, thậm chí là kênh đào... những thứ này ở các quốc gia khác hay thuộc địa phát triển đều là thành quả tích lũy suốt hàng trăm năm.
Còn ở Đông Phi, trước khi người châu Âu đến, thật sự là chẳng có gì. Ngay cả đường đất cũng là do chính quyền thuộc địa Đông Phi tự phát triển.
Tình hình giao thông đường bộ ở Đông Phi có thể hình dung được: chỉ cần một trận mưa là đường lập tức lầy lội khó đi. May mắn thay, địa hình đồng cỏ ở Đông Phi tương đối bằng phẳng và rộng mở, việc thi công đường không quá khó khăn.
Lực lượng thi công tuyến đầu là các tù binh bản địa, còn chính quyền thuộc địa Đông Phi chịu trách nhiệm giám sát công việc.
Hơn mười vạn người cùng lao động trên các công trường. Dù công cụ thô sơ, nhưng nhờ ưu thế số đông, đường sá Đông Phi vẫn tăng trưởng với tốc độ nhìn thấy được.
Khẩu phần ăn của thuộc địa Đông Phi với thổ dân cũng không tệ: nhiều muối, nhiều mỡ, đảm bảo sức lực mỗi ngày.
Lượng thức ăn tất nhiên không nhiều, nhưng so với việc phải săn bắt để mưu sinh thì ổn định hơn nhiều. Thêm vào đó, thi thoảng những động vật hoang dã trong vùng còn giúp họ "cải thiện" bữa ăn.
Làm việc cường độ cao mỗi ngày, người bản địa không những không gục ngã, mà còn khỏe mạnh và vạm vỡ hơn trước.
Ở thời đại này, dù là thuộc địa hay không, lao động đều bị vắt kiệt sức lực, đặc biệt là ở những nơi ngoài châu Âu.
Như việc xây kênh đào Suez, hay đường sắt xuyên lục địa ở Mỹ... tất cả đều chất đầy xương trắng của người lao động. Những công trình đó không chỉ có cường độ lao động lớn, mà còn tiết kiệm chi phí đến mức khắc nghiệt, từ khẩu phần ăn nghèo nàn, thực phẩm ôi thiu, cho đến tình trạng bị cắt xén khẩu phần thường xuyên.
Vậy tại sao Đông Phi lại nuôi béo người bản địa? Điều này không phải do chính quyền thuộc địa Đông Phi có lòng nhân từ.
Mà là vì sau này, khi những lao động bản địa này "xuất ngũ", có thể bán được giá cao cho thương nhân nô lệ ở Zanzibar.
Đông Phi tận dụng triệt để giá trị lao động của thổ dân, sử dụng họ ở những nơi địa hình hiểm trở, công trình khó hoặc nguy hiểm.
Tại các công trường ở Đông Phi, nếu có vài người chết vì tai nạn cũng chẳng ai thấy tiếc.
Tuy nhiên, để bảo đảm hiệu suất lao động, chính quyền Đông Phi vẫn phải bảo đảm người bản địa được ăn uống tương đối đầy đủ. Hơn nữa, khi đêm đến thì toàn bộ Đông Phi chìm trong bóng tối, cũng không thể bắt họ làm việc ngày đêm liên tục.
Với khẩu phần không quá tệ và thời gian ngủ đầy đủ, cuộc sống của người bản địa thậm chí còn "thoải mái" hơn so với khi phải săn bắt sinh tồn trên thảo nguyên – điểm trừ duy nhất là mất đi tự do và bị đối xử như hạng người thấp kém.
Ai cũng biết rằng sức mạnh là do luyện tập mà thành. Trước đây, người bản địa vốn khỏe, nhưng thiếu sức bền để làm việc nặng. Cuộc sống săn bắt giúp họ có sức bật tốt, chạy nhanh, nhưng công việc nặng lại cần sức ở thắt lưng, ở tay, và cả sự kiên trì.
Nay, qua quá trình "đào tạo" của Đông Phi, người bản địa hàng ngày rèn luyện tại công trường, đã nâng cao rõ rệt về sức bền và khả năng phục tùng mệnh lệnh.
Chính vì vậy, khi thuộc địa Đông Phi bán những lao động đã "xuất ngũ" này cho thương nhân nô lệ ở Zanzibar, họ đều nhận được đánh giá rất tích cực.
Lý do là bởi khách hàng từ Đế quốc Ottoman sau khi sử dụng những nô lệ được huấn luyện này đều bất ngờ vì họ ngoan ngoãn, khỏe mạnh, dễ dùng, và tỷ lệ hao tổn thấp hơn hẳn.
Dĩ nhiên, muốn đảm bảo chất lượng đường sá ở Đông Phi, ít nhất cũng phải đảm bảo nó không quá tệ, chỉ dựa vào sức lao động bản địa là không đủ.
Như đã nói, người bản địa thiếu kiên nhẫn, không phù hợp làm những công việc tỉ mỉ, nên ở những đoạn đường cần kỹ thuật thì phải dựa vào dân di cư.
Đặc biệt là cầu cống cần gia cố, bền chắc và có kỹ thuật, dân di cư thông thường không đáp ứng được, phải tìm người có kinh nghiệm liên quan.
Bằng cách kết hợp thổ dân và dân di cư, thuộc địa Đông Phi đã kết nối các thị trấn trong lãnh thổ bằng đường sá.
Loại đường đất này còn có tác dụng chống lạc đường. Trên đồng cỏ mênh mông hoang vu, rất dễ đi lạc. Mà dân di cư cần phải liên tục di chuyển vào nội địa, nên các điểm định cư buộc phải được nối liền bằng đường sá – nếu chẳng may lạc trong thiên nhiên, chỉ cần lần theo đường đi là có thể tìm được nơi cư trú và được cứu.
Dùng hệ thống đường hiện tại để vận chuyển hàng hóa thì có mặt lợi và mặt hại.
Khi trời đẹp, đường đi đương nhiên tốt hơn bãi cỏ, nhưng gặp mưa thì đường đất hai bên còn dễ đi hơn. Tuy vậy, việc trời mưa mà vẫn phải hành quân là rất hiếm nên việc xây đường vẫn là cần thiết.
Hơn nữa, điều kiện đường hiện tại dù kém, sau này có thể nâng cấp. Không nói đâu xa, tuyến đường từ Mbeya đến Dar es Salaam đang được cải tạo thành đường sỏi đá.
Mỏ than ở Mbeya cần phương tiện chở ra ngoài để cung cấp năng lượng cho những nhà máy ít ỏi của Đông Phi, nên nền đường ở đây bắt buộc phải chắc chắn hơn so với đường thường.
Ngoài ra, các khu vực phát triển sớm như Thượng Duyên Hải và Trung ương cũng đang nâng cấp đường. Các khu vực khác vẫn phải ưu tiên giải quyết vấn đề có-không.
Trong thời gian ngừng chiến, Đông Phi chủ yếu củng cố tuyến đường từ duyên hải đến Mwanza, và gấp rút làm một con đường đất đơn giản từ khu Hồ Lớn đến vùng chiếm đóng mới.
Trong thời chiến, tuyến tiếp tế kéo dài và chất lượng đường sá kém đã khiến thuộc địa Đông Phi khổ sở vô cùng.
Mà cuộc chiến mới chỉ đi được nửa chặng, phía sau còn bốn thế lực lớn mạnh hơn ở phương Bắc, nên nhất định phải chuẩn bị kỹ càng để tránh thất bại.
Dù Ernst không đánh giá cao người bản địa, nhưng hắn cũng biết rằng đôi khi họ có thể bùng phát sức mạnh bất ngờ – lịch sử từng có không ít ví dụ các thế lực lạc hậu đánh bại kẻ tiên tiến.
Vì vậy, mỗi trận chiến đều phải chuẩn bị nghiêm túc. Nếu là Anh hay Bồ Đào Nha đánh trận này, chắc chắn họ sẽ không cẩn thận như Ernst.
Với hơn một vạn quân lính trang bị vũ khí hiện đại (bao gồm cả dân quân), quân đội Đông Phi đủ sức tham gia một cuộc chiến nhỏ tại châu Âu.
Thậm chí còn có thể tạo ra uy hiếp nghiêm trọng đối với những quốc gia nhỏ như Hy Lạp hay các nước Balkan – những nước này chỉ có dân số khoảng một triệu, quân đội nhiều nhất chỉ vài vạn. Chưa kể đến các tiểu quốc yếu hơn trong lãnh thổ Đức.
Vì vậy Đông Phi đối xử với các quốc gia thổ dân này hết sức nghiêm túc. Ngay cả Zanzibar trước đây cũng không được đối đãi như vậy.
Vương quốc Zanzibar chỉ có vài chục vạn dân, nếu Đông Phi tập trung lực lượng từ phía Tây Bắc tiến vào, thì chỉ cần bày trận trước cửa Zanzibar là đã đủ sức răn đe.
Trong thời gian ngắn, Đông Phi hoàn toàn có thể huy động một đội quân bảy, tám vạn người tạm thời rời sản xuất – điều này ở châu Phi, ngoài Ai Cập ra, không có ai làm được.
Đó là lý do Ernst có đủ tự tin để tuyên bố "đứng vững chân ở châu Phi". Còn vì sao lại không bị các thế lực khác chú ý?
Lý do là các cường quốc khác chưa thật sự tiến sâu vào nội địa châu Phi, họ không hiểu rõ tình hình thực tế ở Đông Phi. Hơn nữa, Đông Phi vốn nằm trên tuyến đường từ châu Âu đi Ấn Độ và Viễn Đông, Dar es Salaam và Mombasa có rất nhiều tàu buôn ghé qua mỗi ngày.
Người qua kẻ lại vốn đã nhiều, nên việc di dân đổ bộ vào Đông Phi cũng không hề gây nghi ngờ. Ngoài Đông Phi ra, chẳng ai rảnh rỗi mà đi thống kê xem nó đã tiếp nhận bao nhiêu người nhập cư.
Dù gì các quốc gia khác cũng đang tuyển người cho thuộc địa của mình, còn Đông Phi chỉ là "tuyển hơi nhiều" một chút mà thôi. Lại thêm việc Đông Phi quản lý theo mô hình khép kín – thương nhân Zanzibar chỉ có thể kinh doanh trong chợ của Dar es Salaam, chưa có thế lực nào thâm nhập được vào nội địa Đông Phi. Họ nhiều lắm chỉ nhìn nhận tình hình qua các cảng biển mà đoán chừng.
Nhìn từ duyên hải, Đông Phi cũng chẳng khác gì thuộc địa Mozambique của Bồ Đào Nha, không đáng lo ngại.
Ngay cả người Bồ cũng chỉ tiếp xúc được với vài ngôi làng ở phía Đông Phi – phía Tây giáp Đông Phi là các thế lực bản địa phụ thuộc vào Bồ, mà giữa hai bên còn bị sông Ruvuma ngăn cách, nên Bồ Đào Nha cũng không nắm rõ thực lực của Đông Phi.
Còn người Ả Rập, ngoại trừ Vương quốc Zanzibar thì cũng chẳng ai quen thuộc Đông Phi.
Sudan (gồm Nam Sudan) vốn là lãnh thổ Ai Cập và rất gần với Omorat (thuộc Tây Bắc Đông Phi), nhưng ở giữa lại có nhiều bộ lạc du mục ngăn cách, mà Ai Cập cũng gần như chẳng kiểm soát nổi Nam Sudan (nơi toàn là người da đen).
Tất nhiên, địa lý của Đông Phi vẫn khá lý tưởng – đặc biệt là Dar es Salaam là cảng biển trọng yếu trên bờ Ấn Độ Dương.
Nhưng Anh và Pháp đều biết rõ rằng kênh đào Suez sắp hoàn thành, hơn nữa Anh có Cape Town, Pháp có Madagascar – cả hai đều có điểm tựa trên Ấn Độ Dương, nên Dar es Salaam không còn quá quan trọng nữa.
Chưa kể hiện tại, các cảng như Dar es Salaam đều đã được trang bị pháo, biến thành "con rùa sắt", nhờ vậy Đông Phi mới có thể "sống yên ổn".
Nếu thật sự muốn để các nước khác để mắt đến Đông Phi, thì chỉ cần phát triển mạnh tài nguyên khoáng sản và bán ra thị trường – điều đó dĩ nhiên là không thể. Ernst thừa hiểu, phải giấu được bao lâu hay bấy lâu.
(Hết chương)
Chú thích: [1] Đường sắt xuyên lục địa Mỹ: Hoàn thành năm 1869, xây dựng bằng mồ hôi của hàng vạn công nhân Trung Quốc và Ireland.
------oOo------