Tiếng còi chói tai đột ngột phá vỡ sự yên tĩnh của buổi sớm, vang dội khắp khu chuyển tiếp dân di cư, khiến những người nhập cư còn đang chìm trong giấc ngủ bị đánh thức.
“Ký túc xá 23, phòng 013.”
Người đang say ngủ là Viên Dã, bất chợt bật dậy trên giường: “Chuyện gì thế?”
Ngay lúc đó, Lý Tế cũng tỉnh lại, dụi đôi mắt nhập nhèm: “Sáng sớm thế này mà đã phá giấc mơ đẹp của người ta! Tiếng này chắc là còi chứ gì, nhưng sao mà khó nghe quá.”
Giữa lúc mọi người còn đang oán than, tiếng còi cuối cùng cũng ngừng. Thế nhưng, tiếp đó lại vang lên một hồi chuông trầm bổng từ xa vọng lại.
"Boong... boong... boong..."
Đó chính là tiếng chuông phát ra từ tháp đồng hồ của thành phố Dar es Salaam. Khi chuông của thành phố này ngân vang, có nghĩa là vừa điểm sáu giờ sáng tại Đông Phi.
Tuy vậy, ở khu chuyển tiếp dân di cư, chỉ những người đã tỉnh mới có thể nghe được tiếng chuông này. Cũng chính vì thế mà Sở Di dân Đông Phi mới phải dùng còi để đánh thức.
Trong khu dân cư tách biệt của di dân, nhân viên Sở Di dân đang thực hiện “dịch vụ gọi dậy”.
Họ cầm dùi cui gõ mạnh lên từng cánh cửa gỗ dọc hành lang: “Cộp, cộp, cộp…” – tưởng chừng như cửa gỗ có thể vỡ tung bất cứ lúc nào.
“Dậy mau! Đừng ngủ nữa! Mau rửa mặt chải đầu, trễ là lỡ bữa sáng đấy!”
Trước tiên họ hô bằng tiếng Đức, sau đó lại lặp lại bằng tiếng Hán. Đám di dân vốn còn lười biếng, nhưng nghe nhắc đến bữa ăn thì lập tức bật dậy, mặc quần áo, không ai có thể ngăn cản lòng ham ăn của họ.
Người bình dân thời ấy vốn có thừa cơ hội ngủ nướng, phần lớn di dân Đông Phi xuất thân nông thôn, quen lối sống “làm lụng theo mặt trời”, giấc ngủ vốn cũng khá đầy đủ.
Điều khiến họ bận tâm không phải ngủ ít, mà là làm sao để có cái ăn. Gieo hạt xong thì phó mặc cho ông trời; năm nào mưa thuận gió hòa thì còn qua nổi, gặp tai ương một chút là nạn đói xảy ra ngay.
Âu châu thì đỡ hơn, lỡ gặp mất mùa còn có thể vào nhà máy làm thuê để không chết đói. Nhưng ở Viễn Đông, đa số người dân chỉ còn cách gồng gánh tha hương.
Dẫu vậy, tình hình ở Âu châu cũng chẳng sáng sủa mấy. Năm 1871, tỷ lệ đô thị hóa của Đức mới chỉ đạt 30,6%, Pháp là 31%, còn Đế quốc Áo – Hung chỉ 25%. Mà đây mới chỉ tính về mặt “đô thị hóa”; xét về mức độ hiện đại thì còn thấp hơn nhiều.
Đa phần các thị trấn khi ấy vẫn dựa vào nông nghiệp, nhiều dân thị trấn vẫn làm nghề nông, chỉ là ở trong phố mà thôi. Thị trấn Hechingen chính là một ví dụ; năm nào mùa màng thất bát thì nhiều hộ gia đình đứng trước nguy cơ phá sản.
Người sống “sướng” nhất thời ấy chính là người Anh. Mức độ đô thị hóa của Anh quốc đã vượt quá 60%, công nghiệp trở thành trụ cột kinh tế. Cộng thêm vài năm gần đây nhờ sản lượng nông nghiệp tăng vọt tại Đông Phi, Bắc Mỹ và Nga, giá lương thực quốc tế liên tục giảm, khiến giá thực phẩm tại các nước công nghiệp ổn định, thậm chí còn hạ xuống.
Năm 1871, tỷ lệ đô thị hóa ở Đông Phi là 17,3% – cao hơn mức trung bình toàn cầu (12%). Trong số các nước nông nghiệp, đây đã là mức khá cao. Cùng thời điểm đó, Hoa Kỳ đạt khoảng 25%, Nga 11%, còn “cường quốc dân số” Viễn Đông thì chỉ đạt khoảng 4%.
Đông Phi có tỷ lệ đô thị hóa cao, nguyên nhân chủ yếu gồm:
Dân số ít, phần lớn là di dân. Để thúc đẩy sự hòa hợp các dân tộc, chính quyền Đông Phi chủ trương tập trung dân cư, tránh để một dân tộc nào tụ cư quá đông.
Nông nghiệp đòi hỏi hợp tác. Vốn là vùng hoang sơ, dã thú còn nhiều hơn người. Muốn khai khẩn đất mà thiếu người thì chẳng mấy chốc bị thiên nhiên lấy lại. Đôi khi dẹp thú dữ còn phải dùng đến dân binh hoặc quân đội, huống chi còn nhiều thế lực bản địa tồn tại.
Tập đoàn Hechingen đầu tư mạnh. Ví dụ, Xưởng đóng tàu Bagamoyo mới xây đã có hơn hai nghìn công nhân, ngành trồng sisal còn thu hút hơn năm nghìn lao động.
Song nguyên nhân quan trọng nhất khiến tỷ lệ đô thị hóa ở Đông Phi cao chính là: số lượng lớn người da đen không được tính vào dân số chính thức của Đông Phi.
Người da đen chiếm gấp bốn lần số di dân, dẫu đã bị trục xuất không ít.
Bởi thế, đời sống của di dân Đông Phi có phần đơn điệu, nhưng mức sống cũng chẳng kém thế giới. Có mỏ, có đất, có nguồn lao động da đen để khai thác; thêm vào đó mô hình quản trị theo kiểu công ty giúp tránh được nạn tiểu nông phá sản. Dù có vùng mất mùa thì cũng có thể điều phối lương thực từ nơi khác, san sẻ tổn thất.
Hơn nữa, Đông Phi vốn có thể thu hoạch nhiều vụ mỗi năm, thường là hai mùa trở lên – điểm mấu chốt để ổn định.
Điều này chẳng khác nào Viễn Đông từ sau đời Tống, dân cư và sản nghiệp dồn về phương Nam, bởi nơi đó dù có thiên tai cũng kịp trồng lại, không đến mức trắng tay như phương Bắc.
Đông Phi còn thuận lợi hơn: khí hậu toàn vùng không chênh lệch nhiều, mưa dồi dào nhưng không khắc nghiệt, sản lượng lương thực ổn định.
Nếu theo thang xếp loại đất canh tác ở Viễn Đông đời trước, phần lớn đất Đông Phi đạt mức trung bình khá trở lên, riêng khu vực Đại Hồ còn đạt loại ưu. Nói cách khác, Đông Phi vốn đã định sẵn sẽ là cường quốc nông nghiệp.
Trong khi đám di dân hồ hởi dậy sớm vì bữa ăn, thì Sở Di dân vốn chú trọng quy củ và vệ sinh, lại đặt thêm yêu cầu.
“Xếp chăn màn gọn gàng! Đồ đạc không được bừa bãi, lát nữa sẽ có người kiểm tra. Ai mà lôi thôi, đừng trách ta không nhắc trước – hậu quả tự gánh chịu!”
“Phòng 041, các người làm ăn kiểu gì thế? Sàn đầy bụi bẩn, mau quét dọn sạch sẽ, không thì tối nay khỏi ăn cơm!”
“Đây là áo của ai? Số hiệu 8856! Mới phát vài hôm mà đã bẩn thế này! Ngửi mùi đi, chịu nổi không? Mau giặt sạch ngay!”
…
Cảnh náo động của cuộc kiểm tra vệ sinh nhanh chóng thu hút sự chú ý của đoàn cứu trợ. Họ nghe thấy tiếng quát tháo cùng ồn ào khi di dân rửa mặt.
An Đức nói: “Thế Nghiêm huynh! Phía đông ồn ào quá! Hình như có ai đó đang quát mắng. Lại dùng cả ‘chim ngữ’ (tiếng Đức) lẫn tiếng Hán. Đông Phi này chẳng lẽ đang ngược đãi di dân sao?”
Lý Cách đáp: “Hậu Độ hiền đệ, để ta đi hỏi thì sẽ rõ thôi!”
Thế là Lý Cách bước đến căn nhà nơi các hướng dẫn viên Đông Phi ở.
“Cộc, cộc, cộc…”
“Tới ai vậy! Sớm thế còn chưa ngủ à?”
Lý Cách ngớ người, bởi đối phương dùng tiếng Đức.
Một lát sau cửa mới mở. Nhìn thấy Lý Cách đứng ngoài, vị hướng dẫn mới nhớ ra – bọn họ chẳng hiểu tiếng Đức.
Hướng dẫn viên nói: “Ngài Lý Cách! Có việc gì sao?”
Lý Cách: “À, là thế này. Vì sao bên khu cư trú phía đông lại ồn ào như vậy?”
“Ngài hỏi cái này ư? Thật ra cũng chẳng liên quan gì tới các ngài. Đó đều là di dân mới đến, họ phải được rèn luyện theo lối sống Đông Phi. Nếu không thì khó mà thích nghi được. Ngoài chuyện ấy ra, ngài cứ yên tâm ngủ tiếp, đừng để ý.”
Lý Cách: “Chúng tôi chỉ tò mò thôi. Xin hỏi, chúng tôi có thể sang đó xem không?”
“Xem ư? Có gì đâu mà xem, cũng chỉ là người với mắt mũi như nhau thôi. Nhưng nếu thật sự hiếu kỳ thì cũng được, miễn là về sớm, kẻo lỡ bữa ăn.”
Lý Cách: “Không thành vấn đề. Thật xin lỗi đã làm phiền ngài.”
“Có gì đâu! Ta vốn là người phụ trách giải đáp cho các ngài. À…” – hắn vừa ngáp vừa nói – “Ta đi rửa mặt đây. Có việc thì tự quyết định, miễn đừng ra khỏi khu chuyển tiếp là được.” Nói xong, hắn quay lại phòng tìm khăn mặt và bàn chải.
Lý Cách quay về báo tin: “Hậu Độ hiền đệ, đi thôi, sang đó xem sao!”
An Đức: “Thế Nghiêm huynh, như vậy có được chăng?”
Lý Cách: “Không sao, ta đã hỏi rồi. Chỉ cần không ra khỏi khu này thì tự do đi lại.”
An Đức: “Vậy thì cùng đi!”
Thế là hai người tiến về phía đông – nơi di dân cư trú. Đây là lần đầu tiên họ được thấy tận mắt cảnh sống của di dân Đông Phi.
Nơi ấy quả thực đông đúc, náo nhiệt. Người thì quàng khăn, cầm bàn chải đi nhà tắm công cộng; người thì gấp chăn màn, quét dọn.
Hai người nhận thấy nơi đây chật chội nhưng gọn gàng ngăn nắp. Một phòng nhỏ tám người ở, nhưng không bẩn thỉu, có lẽ vì họ chẳng có nhiều hành lý.
Lý Cách nói nhỏ: “Hậu Độ! Ta thấy nơi này chẳng giống điểm di dân, mà như quân doanh thì đúng hơn!”
An Đức gật đầu: “Quả là thế! Y phục đồng loạt, kiểu dáng lại giống quân phục và cảnh phục Đông Phi, chỉ khác chút ít về màu sắc và chi tiết thôi.”
Lý Cách tiếp lời: “Còn nữa, huynh có nhận ra không? Di dân ở đây và cư dân Dar es Salaam trông khác hẳn – đa phần gầy gò hơn nhiều.”
Điều đó vốn hiển nhiên. Di dân từ Viễn Đông thường tiều tụy, nếu thấy ngay lúc họ vừa cập bến, có lẽ chẳng khác gì kẻ hấp hối. Chỉ vì ở khu chuyển tiếp này được nghỉ ngơi một thời gian nên mới có được tinh thần như hiện nay.