Chương 369: Tiễn biệt 2 (không tính chương đặt mua)
Nguồn: read.st
Trieste – Xưởng đóng tàu Hoàng gia. Ernst đích thân đến xem qua chiếc “Đại công tước Ferdinand”. Trong bối cảnh thời đại hiện tại, đây quả thực là một con tàu khổng lồ.
Bản thân Ernst vốn chẳng am hiểu về tàu chiến, nhưng y cũng không lo bị người Áo qua mặt. Bởi ngoài việc có kỹ sư xưởng đóng tàu Trieste giám sát, còn có kỹ thuật viên của Xưởng đóng tàu Hechingen tham gia. Đây là soái hạm tương lai của Đại công tước Ferdinand – em trai của Hoàng đế, bình thường ai dám đắc tội. Nhìn thấy con tàu đã nhanh chóng thành hình, Ernst hết sức hài lòng: “Đi thôi!”
Lần này Ernst sang Đông Phi mang theo không ít đồ, trong đó có rất nhiều bộ sưu tập ở lâu đài Hohenzollern, đa phần là cổ vật.
Ở châu Âu, Ernst đã nhặt được không ít báu vật, phần lớn mua lại từ tay binh sĩ Anh – Pháp hồi hương, đặc biệt là thư họa – loại mà người ngoại quốc vốn không biết thưởng thức. Vả lại, trong thư họa khả năng làm giả cực nhỏ, phương Tây hiện vẫn thiếu thợ tài nghệ như vậy.
Trong sưu tập của Ernst, bức Nữ sử châm đồ là món “giá cao” nhất, y mua chưa đến hai shilling.
Với những món cổ vật phong phú ấy, đám binh sĩ Anh – Pháp căn bản chẳng rõ giá trị, phần nhiều đem bán như chiến lợi phẩm. Ernst mua đều theo kiểu “bán sỉ”. Riêng tranh vẽ, hiện đã thu được hơn bốn trăm bức.
Sách vở thì càng nhiều hơn, điển hình như bộ Vĩnh Lạc Đại Điển. Trong tay Ernst có khoảng hơn năm trăm quyển, tất cả đều mua theo cân.
Về văn hóa thì Ernst chẳng mấy am hiểu, cũng không quá chú trọng thưởng thức. Nhưng y biết, hễ thứ gì từng lưu lạc ra từ Viên Minh Viên hay Tử Cấm Thành, thì tuyệt đối không có món nào tầm thường.
Trong đó, phần lớn cổ vật Pháp đều rơi vào tay Ernst – phải cảm tạ “tinh thần quốc tế chủ nghĩa” của dân chúng Pháp cựu khu.
So với quân Anh quen thói viễn chinh cướp bóc, thì quân Pháp hồi hương được đãi ngộ rất khác.
Một mặt, báo chí Pháp thích thú công khai đưa tin về số “chiến lợi phẩm” từ Viên Minh Viên, thông tin lan tràn khắp nơi, đến mức cả nội tình cuộc xâm lược cũng lộ rõ.
Mặt khác, không ít người Pháp cảm thấy nhục nhã, phẫn nộ với hành vi cướp bóc, thẳng thừng chỉ trích. Tiếng nói nổi bật nhất là đại văn hào Victor Hugo, ông gọi Viên Minh Viên là “Versailles + Louvre + Thư viện Quốc gia của Trung Hoa”, một báu vật vô song của nền văn minh nhân loại; còn hành vi của tổng chỉ huy quân Pháp, tướng Montauban, là tội ác hủy diệt văn minh, nỗi ô nhục của nước Pháp.
Đối với số “chiến lợi phẩm” từ Viên Minh Viên, dư luận Pháp chia rẽ, tác động xã hội cũng phân thành hai hướng.
Một bên, báo chí tiếp tục khai thác thông tin, để lại nhiều tư liệu lịch sử có giá trị.
Một bên, sĩ quan binh lính Pháp hồi hương lại đem đấu giá số của cải ấy, không muốn giữ thứ “kỷ niệm” bị dư luận mắng chửi. Nhờ vậy mà xuất hiện không ít phiên đấu giá cùng các bản mục lục.
Ernst cũng nhân dịp thu mua được một số, phần nhiều là đồ dùng cung đình nhà Thanh. Nhưng thực ra, mấy thứ loè loẹt ấy chẳng hợp thẩm mỹ của y.
Đặc biệt như pháp lang thái – chẳng những triều đình Thanh thích, mà người ngoại quốc cũng mê. Ernst lại thấy, nó không thể sánh được với gốm Lư diêu trong tay mình.
Ấy vậy mà giá cả pháp lang thái còn cao hơn nhiều. Ernst phát hiện, trong các cuộc đấu giá, càng thứ hoa mỹ diêm dúa thì giá càng đắt.
Còn những đồ vật theo thẩm mỹ viễn Đông cổ xưa – giản dị, mộc mạc – thì lại chẳng lọt mắt bọn cướp Anh – Pháp.
Tất nhiên cũng có kẻ biết hàng, đó là người Nhật. Nhưng ở dòng thời gian này, số văn vật người Nhật mua được từ Anh – Pháp không nhiều, tuyệt đại bộ phận đều vào tay Ngân hàng Hechingen.
Trong lịch sử, chỉ từ 1931 đến 1945, Nhật Bản đã vận chuyển từ viễn Đông về nước 1879 thùng di sản văn hóa. Sau khi kháng Nhật thắng lợi, theo số liệu Nhật Bản tự thống kê, họ đã mang đi 3,6 triệu món cổ vật, chưa tính số chiến lợi phẩm mà con cháu tội phạm chiến tranh kế thừa.
Ngay tại Bảo tàng Quốc gia Tokyo, hiện vẫn trưng bày vô số thư họa quý hiếm của Trung Hoa: Lý Bạch hành ngâm đồ, Tuyết cảnh sơn thủy đồ, Lục Tổ tiệt trúc đồ, cùng Thập thất thiếp – chân tích của Vương Hy Chi… Nhật Bản thậm chí không hề che giấu, còn đem ra triển lãm kỷ niệm 150 năm của mình. Dân tộc chó má ấy, quả thực vĩnh viễn không thể cứu vãn.
…
“Những bức thư họa này, phải hết sức nhẹ tay. Trên tàu, mỗi ngày phải có người tuần tra, tuyệt đối không để chuột gặm hỏng tác phẩm.”
Thuộc hạ đỏ mặt: “Điện hạ yên tâm, chuột không rảnh mà gặm sắt đâu.”
“Cũng đúng, nhưng vẫn nên cẩn thận. Nhiều món sẽ được trưng trong bảo tàng, hư hỏng một chút cũng kém phần mỹ quan.”
Ngoài cổ vật, Ernst mang theo nhiều nhất chính là sách vở – trọn vẹn ba vạn bộ – dùng để lấp đầy Thư viện Quốc gia còn trống rỗng. Thư viện này không đặt tại Đệ Nhất Trấn thị, mà xây dựng ở thành phố mới Soga.
Về mặt văn hóa, Đông Phi nhìn chung khá thờ ơ. Có vẻ theo thói quen tư duy, người Đông Phi cũng chẳng mấy thích đọc. Ngay cả người Đức đã qua bậc giáo dục bắt buộc cũng vậy.
Bởi lẽ, giáo dục bắt buộc vốn là “nghĩa vụ”, chứ chẳng phải “quyền lợi” của người Đức. Mục đích ban đầu chỉ là đào tạo binh lính đủ chuẩn, cùng công dân trung quân ái quốc.
Bản thân Ernst cũng chẳng quá để tâm. Người trưởng thành tư duy vốn cố định, mà Ernst lại thích họ duy trì cách nghĩ ấy. Dù sao, độc giả của Thư viện Quốc gia Soga cũng đâu phải thường dân.