Năm 1874, Đông Phi trên thực tế không mấy tích cực trong việc đầu tư vào nông nghiệp. Ngoài việc mở rộng khu vực trồng trọt nội lục thì không có chính sách nào khác được thực thi.
Tính đến tháng Tư năm nay, dân số di dân tại khu vực Zambia đã vượt quá năm trăm nghìn người, phân bố thành các thôn làng và thị trấn khắp vùng. Tính cả vùng cao nguyên phía nam Congo, tổng dân số khoảng tám trăm nghìn.
Trong cùng kỳ, dân số Zimbabwe vừa mới vượt quá mười lăm vạn, tuy số lượng không nhiều nhưng tốc độ tăng trưởng lại nhanh nhất.
Ngoài ba khu vực này, các khu vực khác dân số tăng thêm tổng cộng khoảng ba mươi vạn, gồm có Nam Phi, cao nguyên đông Angola, lưu vực thượng nguồn sông Bạch Nile, cao nguyên Azande, châu thổ sông Okavango… Trong đó, Nam Phi và cao nguyên đông Angola di dân chủ yếu vì nhu cầu củng cố biên giới, còn như châu thổ sông Okavango vốn không có nhu cầu này thì chỉ tăng thêm hơn ba nghìn người.
“Con đường di dân từ cảng Dar es Salaam và cảng Mtwara đến Mbeya đã hình thành hoàn chỉnh. Người di cư tại tỉnh Nam Salzburg được phân luồng qua đường bộ và hồ Malawi. Đây là nguyên nhân quan trọng khiến dân số lưu vực sông Zambezi và khu vực phía nam lưu vực sông Congo tăng trưởng nhanh chóng.”
“Trong cùng kỳ, trình độ phát triển nông nghiệp ở hai bên bờ bắc nam sông Zambezi có tiến bộ rõ rệt. Ngoài diện tích gieo trồng lúa nước và lúa mì – hai loại lương thực chính – tăng ổn định, thuốc lá đã trở thành cây kinh tế quan trọng, còn cây kiếm ma và các loại khác cũng phát triển khá nổi bật.”
“Dân số nội lục tăng trưởng cũng khiến công tác của chúng ta thêm phần phiền toái, chủ yếu thể hiện ở hiệu suất hành chính: thứ nhất, bờ bắc sông Zambezi, bao gồm cả lưu vực sông Congo, đơn vị hành chính cấp tỉnh quá dày đặc, nhưng dân số lại không đủ, dẫn đến lãng phí nghiêm trọng; thứ hai, khu vực phía nam sông Zambezi, quản lý hành chính tương đối hỗn loạn, khu vực quản lý quân sự quá nhiều, đồng thời các thị trấn lại lấy mình làm trung tâm, rất khó điều phối.”
Nguyên nhân chủ yếu là khu vực Zimbabwe không có đơn vị hành chính cấp tỉnh, vẫn dựa vào quân khu trước đây để quản lý, mà Harare và Bulawayo lại hình thành đơn vị hành chính cấp thị mang màu sắc khu vực riêng.
“Không chỉ vậy, khu vực phía đông quốc gia ta hiện nay cũng đang gặp phải vấn đề này. Trước kia đơn vị hành chính cấp tỉnh quá nhiều, nhưng hiện tại nhiều tỉnh chênh lệch phát triển quá lớn, không đủ khả năng duy trì phát triển độc lập, trình độ công – nông nghiệp đều khá thấp.”
Đã đến lúc bản đồ hành chính của Vương quốc Đông Phi thay đổi. Thực tế, từ sau khi Đông Phi chiếm lĩnh Nam Phi, hệ thống hành chính trước đó đã hoàn toàn lạc hậu.
Điều này thể hiện rõ nhất tại khu vực nội lục, Đông Phi áp dụng hình thức quân khu để thực thi quản lý khái quát đối với ba hướng: tây, tây nam và nam.
Ban đầu thực hiện quản chế quân sự là vì nội lục Đông Phi hầu như không có người, ngoài quân đội thì phần lớn đều là thổ dân. Đối với thổ dân, sử dụng quân đội áp chế là không thể thiếu.
Nhưng hiện tại thì khác. Ở một số khu vực, tỷ lệ dân số đã nghiêng về phía di dân. Lấy Zimbabwe làm ví dụ, theo chính sách điều phối “rút ra – đưa vào” của Đông Phi, di dân đã chiếm gần 19%.
Trong khi đó, một số tỉnh ở phía đông Đông Phi có chức năng trùng lặp, thậm chí không cần thiết tồn tại, như tỉnh Duyên hải và tỉnh Kilimanjaro.
Sau quá trình nghiên cứu và thảo luận của chính phủ, cuối cùng Ernst quyết định, hệ thống hành chính mới của Đông Phi năm 1874 chính thức được ban bố.
Hệ thống mới vẫn giữ nguyên 26 tỉnh như trước, nhưng lần này phạm vi điều chỉnh bao trùm toàn bộ lãnh thổ Đông Phi, nhiều tỉnh được tái hợp nhất, chẳng hạn như 6 tỉnh khu vực Zambia hợp nhất còn 2 tỉnh.
Biến động cụ thể như sau:
Phía bắc: giữ nguyên bốn tỉnh (Bắc Phương, Turkana, Juba, Bắc Đại Hồ).
Tây bắc: tăng thêm ba tỉnh mới – tỉnh Nile (Nam Sudan), tỉnh Tân Bavaria (phía đông cao nguyên Azande), tỉnh Tây Azande (phía tây cao nguyên Azande).
Tây Đại Hồ: không thay đổi.
Khu vực Kenya: giải thể tỉnh Đông Đại Hồ, nhập vào tỉnh Nam Phổ, thủ phủ đặt tại Nairobi.
Khu vực Tanzania: giải thể tỉnh Kilimanjaro và tỉnh Duyên hải, nhập vào các tỉnh Trung ương, Đông Phương và Cao nguyên; thủ phủ Tanga nhập vào tỉnh Trung ương. Tỉnh Nam Đại Hồ và tỉnh Hohenzollern nhập vào tỉnh Cao nguyên. Phần phía nam tỉnh Cao nguyên và nam tỉnh Hohenzollern nhập vào tỉnh Nam Salzburg. Phần phía đông tỉnh Cao nguyên (chủ yếu khu vực thượng nguồn sông ngòi) nhập vào tỉnh Trung ương. Miền nam Tanzania, tỉnh Hải Hồ đổi tên thành tỉnh Tân Württemberg.
Mở rộng diện tích Khu bảo hộ thiên nhiên Serengeti, sáp nhập một phần đất thuộc tỉnh Kilimanjaro cũ và tỉnh Nam Đại Hồ, tương đương khu vực vô dân.
Ở dãy núi Mitumba, giải thể tỉnh Mitumba, nhập vào tỉnh Hessen để tiện quản lý thống nhất vùng trồng cao su và khai thác khoáng sản (đồng, wolfram…).
6 tỉnh tại Zambia và cao nguyên nam Congo (Tây Bộ, Nam Biên Cương, Đông Katanga, Tây Katanga, Tây Cao nguyên, Walunga) được hợp nhất thành hai tỉnh: phía bắc là tỉnh Schwaben, phía nam là tỉnh Hohenzollern.
Lưu ý: tỉnh Hohenzollern cũ ở phía đông hồ Tanganyika bị giải thể, nhưng Ernst tại Zambia lập một tỉnh mới cùng tên. Trường hợp tương tự còn có tỉnh Nam Biên Cương (mới).
Phía tây: lập tỉnh Congo ở lưu vực sông Congo; phía tây tỉnh Congo (cao nguyên Kwango) lập tỉnh Danube; tại cao nguyên Lunda, thượng nguồn sông Zambezi, lập tỉnh Zambezi; vùng trung – thượng du sông Okavango lập tỉnh Letania (lấy tên từ Áo – Hung).
Phía nam: tại bồn địa Kalahari, lấy châu thổ nội địa sông Okavango làm trung tâm, lập tỉnh Lorraine.
Zimbabwe: lập tỉnh Matabele.
Lãnh thổ Bechuanaland thuộc Anh trước kia: lập tỉnh Tân Baden.
Cựu Cộng hòa Transvaal và Vương quốc Swazi: lập tỉnh Hohingen.
Cựu Vương quốc Zulu, một phần Vương quốc Lesotho, vùng giáp ranh Orange Free State: lập tỉnh Nam Biên Cương (mới).
Phía nam Pretoria, vùng đồng cỏ khô hạn, tạm thời xác định là Khu bảo hộ thiên nhiên sông Limpopo, che phủ vùng mỏ vàng.
Đồng thời, hủy bỏ tư cách đơn vị hành chính độc lập của đảo Pemba, đảo Zanzibar và đảo Mafia. Trong đó, Pemba và Mafia nhập vào tỉnh Trung ương; Zanzibar được xác định là thuộc quốc, cũng quy về tỉnh Trung ương.
Nhóm đảo Comoros được nâng cấp thành đơn vị hành chính cấp thị, làm căn cứ hải quân Đông Phi, phục vụ neo đậu và tiếp tế.
Trên thực tế, việc quy hoạch phía tây trong bản đồ hành chính mới vẫn chưa rõ ràng. Điều này không phải vì Đông Phi không coi trọng, mà trái lại, bởi chính phủ hiểu rõ rằng Đông Phi chỉ mới dừng mở rộng, bản đồ cuối cùng chưa định hình, lãnh thổ phía tây có thể thay đổi bất cứ lúc nào.
Ngoài ra, tỉnh Cao nguyên được củng cố thêm, bởi trước kia khu vực này phát triển không mấy lý tưởng, ngoại trừ tỉnh Nam Đại Hồ còn có chút khởi sắc, thì tỉnh Hohenzollern cũ và tỉnh Cao nguyên đều không có tiến triển.
Hai tỉnh Nam Biên Cương và Tân Baden tại Nam Phi chủ yếu nhằm phòng ngừa mối uy hiếp từ thuộc địa Cape. Trong đó, Nam Biên Cương trải dài đông – tây, còn Tân Baden nhằm khống chế hữu hiệu bờ bắc sông Orange. Việc đổi Cộng hòa Transvaal thành tỉnh Hehingen vốn không cần phải giải thích thêm.
Những tỉnh lấy tên liên quan đến vương thất Hehingen cũng xuất hiện tại Zambia và cao nguyên nam Congo: tỉnh (mới) Hohenzollern và tỉnh Schwaben.
Bởi xưa kia Công quốc Hehingen từng là một phần của Công quốc Schwaben. Khu vực Schwaben có ý nghĩa phi phàm với dân tộc Đức, bao gồm Württemberg, Công quốc Hehingen, Công quốc Sigmaringen, cùng vùng Schwaben thuộc Bavaria, tất cả đều thuộc hệ quý tộc Schwaben.
Từ vùng Schwaben đã bước ra gia tộc Habsburg và gia tộc Hohenzollern – những gia tộc có ảnh hưởng và chủ đạo lịch sử của cả dân tộc Đức.