Sau khi giải quyết xong chính phủ Đông Vạn Luật, lực lượng tiếp theo tiến vào Cộng hòa Lan Phương chính là Tập đoàn Hechingen. Tại đây, bọn họ để lại hơn ba trăm quân vũ trang, còn Đại công Ferdinand thì dẫn theo hạm đội tiếp tục xuôi về phương Đông.
Ba trăm quân này không dừng lại ở Đông Vạn Luật mà tiếp tục hành quân xuống phía nam, tiến vào thành phố Khun Điện của Cộng hòa Lan Phương.
Đông Vạn Luật được xây dựng ở bờ tây nhánh phụ của sông Vạn Luật, một nhánh của sông Khun Giang (sông Kapuas), còn Khun Điện thì nằm ở cửa biển Khun Giang, là một hải cảng tuyệt hảo, đồng thời cũng là thành thị lớn nhất đảo Kalimantan, cư dân chủ yếu là người Hoa.
Khoảng cách đường thẳng giữa Đông Vạn Luật và Khun Điện chỉ tầm hai, ba chục kilômét, song hai thành thị này lại có sự khác biệt rõ rệt. Đông Vạn Luật trở thành thủ đô là nhờ vào mỏ vàng – nơi khởi phát của vương quốc (công ty) Lan Phương.
Khun Điện thì dựa vào ưu thế giao thông thuận lợi mà phát triển thành thành phố kinh tế phồn vinh nhất toàn đảo Kalimantan. Tại nơi này, vũ trang Đông Phi và Thương hội Zanzibar đã thiết lập quan hệ.
…
“Phía trước chính là đảo Balabac? Xem ra lại là một vùng hoang vu, chẳng khác gì Sumatra! Tìm chỗ neo đậu rồi qua đó.” – Đại công Ferdinand giơ ống nhòm quan sát cảnh vật trên đảo Balabac.
Theo lý mà nói, đảo Balabac thuộc về thuộc địa Philippines của Tây Ban Nha, trấn giữ eo biển Balabac, phía tây là đảo Kalimantan, còn phía đông là quần đảo Philippines.
Song cái gọi là lãnh thổ mặc định ấy, Đông Phi chẳng hề thừa nhận. Quả như Ferdinand nói, đảo Balabac hoàn toàn là nơi hoang vu, không một bóng người.
Đến tận thế kỷ XXI đời trước, dân số toàn đảo Balabac cũng chỉ hơn mười lăm ngàn, sản vật chính là vỏ sò và dừa. Hiện tại, ngoài một số ít bộ tộc thổ dân, quả thực chẳng còn ai.
Đảo này không có giá trị kinh tế, cũng chẳng thể hiện được chút chiến lược nào, bởi cả Kalimantan và quần đảo Philippines đều là những khu vực lạc hậu.
Chỉ đến khi đời sau người Mỹ xây dựng căn cứ quân sự tại đây thì giá trị chiến lược của Balabac mới được bộc lộ, mà thực chất căn cứ ấy là nhằm gây khó dễ cho cường quốc Viễn Đông ở Biển Đông. Đương nhiên, cũng bởi kinh tế Đông Nam Á về sau phát triển, trở thành một phần có vị trí trong bản đồ kinh tế thế giới, ít nhất còn mạnh hơn châu Phi.
Đại công Ferdinand dẫn hạm đội tìm một nơi có thể đổ bộ, chuẩn bị nghỉ lại qua đêm, tiện tay cắm lá cờ Đông Phi trên bãi cát.
“Từ hôm nay, nơi này chính là lãnh thổ Vương quốc Đông Phi!”
Thế là Vương quốc Đông Phi đã có mảnh đất thuộc về mình tại vùng Nam Dương. Thực ra gọi là “thuộc địa” cũng không chuẩn, bởi đảo Balabac chẳng có mấy người, “thuộc dân” còn chẳng có thì nói chi đến “thuộc địa”.
Vài ngày tiếp đó, Ferdinand cho thủy quân dựng một pháo đài quân sự sơ sài tại điểm đổ bộ, để lại hai, ba chục người cùng một phần vật tư, rồi chuẩn bị tiếp tục bắc tiến.
Không để lại vật tư thì cũng chẳng xong, vì Balabac vốn không có nền tảng kinh tế, toàn đảo chỉ là rừng mưa nhiệt đới, chẳng thể để người ở lại chỉ ăn dừa mà sống.
Chiếm đảo Balabac chính là đơn giản như vậy, mà loại đất vô chủ như thế ở Thái Bình Dương nhiều lắm. Đời trước, nước Đức cũng từng cắm cờ ở những đảo hoang như thế mà có được hàng loạt thuộc địa hải ngoại, ví dụ như đảo Nauru trong vùng bảo hộ quần đảo Marshall.
Ernst biết rõ Nauru có tài nguyên phân chim phong phú, nhưng đây mới là chuyến viễn dương đầu tiên của hải quân Đông Phi, mục tiêu cũng chẳng phải nơi ấy. Việc cần thiết nhất là “học bổ túc” kinh nghiệm, nên trước tiên chọn đảo Balabac để luyện tay.
Tham lam thì chỉ chuốc họa, Đông Phi vốn không có năng lực bao chiếm một vùng rộng lớn ở Thái Bình Dương. Như Balabac đây vốn thuộc quần đảo Palawan trong quần đảo Philippines.
Đặt vào đời sau, nó đương nhiên là lãnh thổ Philippines, tức Đông Ấn Tây Ban Nha lúc này. Song chỉ tuyên bố suông chẳng ích gì. Muốn Tây Ban Nha phát hiện ra người Đức trên đảo Balabac e rằng cũng phải đến “năm khỉ tháng mười”, bởi dân cư vùng này vốn ít ỏi. Dẫu có phát hiện, Tây Ban Nha cũng chẳng bận tâm, vì ngoài rừng mưa, đảo Balabac chẳng có gì hết.
Giống như đảo Nauru, vốn do người Anh phát hiện, nhưng mãi đến năm 1888 Đức mới “hốt” về làm thuộc địa. Khi ấy, chẳng ai biết giá trị của phân chim (phốt phát). Không có thứ ấy, Nauru sẽ mãi vô danh.
Balabac lại thậm chí không có cả phân chim, vậy Đông Phi chiếm nơi này để làm gì? Ngoài luyện binh ra, mục đích quan trọng hơn cả là biến nó thành bàn đạp. Phía đông là đảo Mindanao, phía bắc là Palawan, phía tây là Kalimantan, còn tây bắc là Biển Đông – nơi Đế quốc Viễn Đông sở hữu một loạt đảo.
“Vật tư lưu lại đủ để các anh sống trong ba tháng. Đợi chúng ta đến Chu Hải sẽ phát tin về nước. Đạn dược thì tiết kiệm mà dùng, lỡ gặp dã nhân thì còn có thứ phòng thân.”
Dã nhân là thật sự có. Ở rừng mưa Congo của Đông Phi cũng có phân bố, khác với thổ dân thường – dẫu lạc hậu vẫn còn bộ lạc, còn dã nhân thì ngay cả bộ lạc cũng không có.
“Chỗ này nếu các anh muốn thám hiểm vào sâu trong đảo thì tốt nhất đi theo nhóm, nhưng nếu không có tình huống đặc biệt thì chớ nên mạo hiểm. Trong rừng mưa thường có đầm lầy hoặc sinh vật nguy hiểm, tuy chưa biết Balabac thế nào, nhưng cẩn thận vẫn hơn.”
Trước khi lên thuyền, Ferdinand còn dặn dò kỹ lưỡng. Đây thực sự là một nhiệm vụ khó khăn.
Sinh tồn trong rừng mưa chỉ dễ hơn Siberia phương bắc đôi chút. May mắn là đảo Balabac diện tích không lớn, bằng không vấn đề giao thông đã đủ khiến người ta nhức đầu.
Điểm khác biệt giữa rừng mưa và rừng thường chính là lượng nước ứ đọng dày đặc. Đây cũng là nguyên nhân rừng mưa khó khai phá, vì quanh năm mưa dầm, lửa đốt rừng cũng không ăn thua.
Balabac tình hình còn đỡ, diện tích nhỏ, nước mưa thoát ra biển nhanh. Nếu là đảo lớn như New Guinea thì ắt sinh ra những vùng đầm lầy mênh mông.
Thực tế nhìn từ đảo Kalimantan kế bên cũng thấy, dân cư nơi đó vẫn đông, văn minh cũng nhỉnh hơn.
…
Sau tám ngày hải hành, Đại công Ferdinand cuối cùng dẫn hạm đội tới cảng Chu Hải của Đế quốc Viễn Đông, lần đầu tiên tận mắt nhìn thấy quốc gia văn minh có diện tích lớn nhất thế giới hiện nay.
“Nông nghiệp ở Viễn Đông rất phát đạt, dân số thành thị ngang ngửa châu Âu. Xét về diện tích và dân số, tiềm lực quốc gia này quả thật khủng khiếp.”
Ferdinand lần đầu đặt chân đến Viễn Đông đã có đánh giá khá cao. Song vẫn có một điều khiến ông thấy khó chịu – chính là kiểu tóc kỳ lạ của người dân nơi đây.
“Đại công, ngài không cần quá ngạc nhiên. Lịch sử của Đế quốc Viễn Đông rất lâu đời. Nhưng nhận thức của phương Tây chúng ta lại dừng ở những định kiến về triều Thanh. Kỳ thực, từ cổ họa có thể thấy cách đây hơn hai trăm năm, họ không hề để kiểu tóc này.”
“Ta biết. Trong bộ sưu tập của Ernst có không ít tranh vẽ của Viễn Đông. Nhưng chỉ khi bước chân vào môi trường này mới thực sự cảm nhận được. Trước kia ta chỉ xem qua sách vở, giờ đến tận nơi, mới thấy loại trải nghiệm này không thể diễn đạt thành lời.”
Ferdinand chỉ có thể dùng chữ “quái” để hình dung, song không mang ý khinh miệt. Ở Đông Phi, đàn ông phổ biến để đầu đinh, trông tinh thần phấn chấn, ngoại trừ màu da thì di dân Á Đông ở bản địa chẳng khác mấy người châu Âu. Trái lại, dân Viễn Đông khiến ông cảm thấy suy dinh dưỡng, mặt vàng, thân gầy, tinh thần kém, thậm chí còn thua cả người da đen Đông Phi.
Điều này cũng dễ hiểu. Người da đen trước khi bị Đức quốc chiếm, vốn sống dựa vào tài nguyên thiên nhiên phong phú, vô ưu vô lo. Đói thì săn bắt, hái quả, còn có ca hát, nhảy múa, xăm mình.
Ăn ngon, ngủ yên, chẳng phải lo nghĩ, tinh thần đương nhiên tốt. Trái lại, khi người Đức đến, tinh thần bọn họ mới dần suy sụp.