“Từ tháng Hai năm nay, các tuyến hàng hải ở khu vực Đông Phi do Anh và các nước khác khai thác đều được khuyến nghị nên cập cảng Natal hoặc cảng Maputo. Chính phủ đã hợp tác với mười một tập đoàn vận tải biển lớn trên thế giới, nhằm ứng phó với những xung đột khu vực có thể xảy ra, bảo đảm an toàn cho tài sản của công dân Anh và các nước khác.”
“Công ty xây dựng Anh Maddim Construction dự định đầu tư giai đoạn một vào cảng Maputo với số vốn 120.000 bảng Anh, nhằm nâng cao năng lực phục vụ tàu thuyền và khả năng neo đậu của cảng. Maputo được kỳ vọng sẽ trở thành cảng biển mới hàng đầu khu vực châu Phi, thay thế Dar es Salaam và Mombasa, vươn lên trở thành hải cảng đẳng cấp thế giới số một của ‘Đông Phi’.”
Cuối năm 1879, Anh quốc đã chuyển trọng tâm sang Afghanistan, song vẫn không quên “đào hố” cho Đông Phi. Về mặt quân sự thì họ không còn trông cậy được, đành tìm cách bù đắp bằng kinh tế.
Không nghi ngờ gì nữa, tuyến hàng hải Đông châu Phi – trừ Hồng Hải và Vịnh Aden – có đến bảy mươi phần trăm giá trị bị hai cảng Dar es Salaam và Mombasa độc chiếm. Hiện cảng New Hamburg cũng đang được quy hoạch theo mô hình cảng tự do giống hai nơi đó, và cơ sở hạ tầng của New Hamburg nay đã có thể sánh với Maputo và Natal, thậm chí còn có xu hướng vượt qua.
Vốn dĩ, người Anh muốn lôi kéo người Pháp cùng tham dự, bởi thuộc địa Madagascar của Pháp có ảnh hưởng đáng kể tại eo biển Mozambique.
Tuy nhiên, người Pháp không mắc bẫy. Đông Phi và Pháp không có mâu thuẫn lợi ích trực tiếp – chỉ cần Đông Phi không nhòm ngó Madagascar, thì hai bên vẫn có cơ sở hợp tác.
Pháp từng có tiền lệ viện trợ Mỹ chống Anh, nên việc họ không giúp đỡ Đông Phi đã là may. Dĩ nhiên, Pháp cũng không thể thân thiết với Đông Phi – bởi Đông Phi là quốc gia do người Đức thành lập, mà Đức lại là kẻ thù lớn nhất của Pháp. Mối quan hệ giữa Đông Phi và Đức chính là trở ngại lớn nhất trong quan hệ Đông–Pháp.
Suy cho cùng, tất cả vẫn quy về lợi ích. Pháp chẳng được gì ở Đông Phi; cho dù có làm tay sai cho Anh, thì phần lợi cuối cùng cũng rơi vào tay người Anh. Thay vì thế, họ thà tập trung xây dựng Tây Phi thành “Đông Phi của nước Pháp”. Sự trỗi dậy của Đông Phi đã trở thành hình mẫu cho Pháp – một “phiên bản Tây Phi” của Đông Phi.
“Giữa cảng New Hamburg và hai cảng Maputo, Natal tồn tại mối cạnh tranh trực tiếp. Vì vậy, để đối phó với kế hoạch của người Anh lần này, ta nên tận dụng ưu thế địa lý của New Hamburg, xây dựng nó thành cảng biển ưu tú của khu vực Nam Phi, phân hóa lợi thế của Maputo và Natal.”
Đầu tư vào thuộc địa, đối với nhiều chính quốc, thực ra là một gánh nặng – nhất là những dự án dễ thua lỗ như Maputo và Natal.
Đông Phi khi xây dựng cảng New Hamburg thì không có lo ngại này. Dù sao, vùng Nam Phi là lãnh thổ bản địa, sớm muộn gì cũng phải khai phá. Dẫu giai đoạn đầu có lỗ, thì xét tổng thể vẫn là lợi nhiều hơn hại – cảng này còn có thể thúc đẩy các lĩnh vực khác như dân cư, công nghiệp, dệt len và khai khoáng.
“Người Anh tuy nói sẽ phát triển Maputo và Natal để chia cắt giá trị kinh tế cảng Đông Phi, nhưng xét hành động thực tế thì mục tiêu chính của họ vẫn là trọng điểm hỗ trợ Maputo.”
“Trong số các cảng Nam Phi, Maputo có tiềm năng cao nhất – cả về quy mô lẫn điều kiện tự nhiên – nên đây chính là lý do người Anh chọn nâng đỡ.”
“Còn một lý do nữa – vì Anh đầu tư vào Maputo nên Bồ Đào Nha, quốc gia mẫu quốc của Mozambique, tất nhiên cũng phải đầu tư theo, giúp chia sẻ một phần chi phí xây dựng cảng. Nay nước Anh đang dồn sức cho chiến trường Afghanistan, lại phải chi tiêu khắp toàn cầu, nên hợp tác với Bồ Đào Nha để cùng phát triển cảng Maputo chính là phương án tiết kiệm nhất.”
“Kế hoạch của người Anh quả thật sẽ gây ra ảnh hưởng nhất định với nền kinh tế chúng ta, nhưng xây dựng cảng biển cần thời gian. Trong ngắn hạn, Maputo và Natal chưa thể tạo ra mối đe dọa thực sự đối với các cảng Đông Phi.”
“Cảng Dar es Salaam và Mombasa có vị thế ưu thế mà không cảng nào khác có thể thay thế – về điểm này, chúng ta vẫn rất tự tin.”
Dar es Salaam và Mombasa sở hữu vùng hậu phương kinh tế vô cùng rộng lớn; ngay cả New Hamburg cũng bao phủ toàn bộ khu vực vốn thuộc Cộng hòa Transvaal cũ. Vì thế, dù Maputo và Natal được hoàn thành, cũng không thể vượt qua Đông Phi.
Hai cảng Maputo và Natal chủ yếu cung cấp dịch vụ cho tàu thuyền quá cảnh, trong khi nhiều con tàu lại coi châu Phi là đích đến – để tìm kiếm tài nguyên và hàng hóa bản địa. Ở phương diện này, Maputo và Natal không thể so sánh được.
Ví dụ như da thú, ngà voi hay khoáng sản – tất cả đều có thể thu được dễ dàng tại Đông Phi, với chi phí thấp hơn nhiều so với Anh hay Bồ Đào Nha. Hơn nữa, hệ thống đường sắt Đông Phi có thể vận chuyển các nguồn tài nguyên ấy từ nội địa ra khu vực cảng.
Đó chính là cơ sở giúp các cảng Đông Phi cạnh tranh với những cảng nước ngoài như Maputo. Hơn nữa, Dar es Salaam và Mombasa đi trước họ mười năm về trình độ xây dựng – nếu không có đầu tư khổng lồ, Maputo chẳng có cửa thay thế hai cảng đó.
Ngoài ra còn có yếu tố lịch sử: Dar es Salaam và Mombasa là những “cây đại thụ” trên tuyến hàng hải Tây Ấn Độ Dương – tự cổ đã là những thành phố cảng trọng yếu của châu Phi. Chỉ có Mogadishu mới có thể sánh ngang, nhưng nơi này bị hạn chế bởi điều kiện sa mạc, nên phát triển kém xa Dar es Salaam và Mombasa.
Nhiều tàu thuyền và thủy thủ lâu năm hoạt động trên tuyến Tây Ấn Độ Dương đều quen thuộc hơn với Dar es Salaam và Mombasa. Mặc dù những năm gần đây hai cảng này thay đổi chóng mặt, có thể nói là khác hẳn mười năm trước, song sự thay đổi ấy là tích cực: dịch vụ được cải thiện, cơ sở vật chất hoàn thiện hơn, hàng hóa phong phú và lưu lượng lớn hơn.
“Chúng ta cũng không thể để mặc Anh và Bồ Đào Nha làm những chuyện vừa hại người vừa chẳng lợi mình. Đã muốn đối đầu với chúng ta, thì ta cũng nên có động thái đáp trả. Ở phía Bắc, ta có Mogadishu, Mombasa và Dar es Salaam; phía Nam có New Hamburg, còn ở giữa thì cảng Soko cũng có thể mở cho tàu nước ngoài ra vào. Nay tuyến đường sắt từ Soko đến hồ Malawi đã hoàn thành, hoàn toàn có thể đảm nhận một phần chức năng trung chuyển.” — Ernst chốt lại.
Dar es Salaam và Mombasa đã có hơn mười năm kinh nghiệm vận hành mô hình “cảng mở”, nên hoàn toàn có thể sao chép mô hình này cho các cảng khác của Đông Phi.
Tương lai của Đông Phi là mở cửa; việc thành lập thêm hai cảng New Hamburg và Soko chính là để đón đầu xu thế đó.
Cơm phải ăn từng miếng, đường phải đi từng bước – tiết tấu phải được nắm chắc. Từ “bế quan tỏa cảng” đến “chủ động mở cửa” – quyền chủ động ấy nhất định phải nằm trong tay Đông Phi.
Chứ không thể để bị các cường quốc như Anh ép mở cửa bằng bạo lực. Thực tế, nếu Đông Phi không thực hiện chính sách “bế quan” từ đầu, thì người Anh có lẽ cũng chẳng phản ứng gay gắt đến vậy.
Thực ra, cùng thời kỳ đó, Mỹ và Đức cũng đi theo con đường tương tự – đều không phải là thị trường tự do mà là dùng hàng rào thuế quan cao để đối phó với Anh và Pháp.
Chỉ là Mỹ và Đức đã vươn lên, Anh không thể đàn áp nổi, nên đành bóp “trái hồng mềm” là Đông Phi trước.
Nhưng trái hồng thực sự mềm yếu lại chính là những quốc gia như Brazil – mở cửa vội vàng, trở thành nơi “bách quỷ hỗn chiến”, bị tư bản ngoại quốc chi phối.
Còn chính nhờ chính sách khép kín mà Đông Phi có thể ổn định mọi phương diện, không bị thế lực ngoại bang can thiệp. Trong môi trường bảo hộ đó, tuy tương lai khi mở cửa có thể gặp khó khăn trong cạnh tranh quốc tế, nhưng ít nhất sẽ không “chết yểu”. Chỉ cần không chết yểu, Đông Phi hoàn toàn có khả năng trở thành cường quốc tầm cỡ thế giới.