"Những điều ngươi nói cũng có phần hợp lý, nhưng bản thân ta vẫn nghiêng về việc ưu tiên phát triển công nghiệp hơn," Maximilian I nói, "Nhất là trong bối cảnh hiện tại, dân số Đông Phi chưa đông, nên độ khó trong quá trình công nghiệp hóa là không cao. Còn vấn đề lương thực, hoàn toàn có thể dùng hàng công nghiệp có giá trị cao để đổi lấy nông sản có giá trị thấp."
Người phụ trách gật đầu, nói tiếp: "Nếu xét từ thực tế của một số quốc gia châu Âu, lời của Bệ hạ cũng có lý. Dù vậy, không phải nước nào cũng thích hợp để phát triển nông nghiệp. Nhưng điều kiện tự nhiên và diện tích đất đai rộng lớn của Đông Phi lại cho thấy nông nghiệp mới là thế mạnh thực sự. Hơn nữa, ‘trong tay có lương thực, lòng dạ mới yên ổn’ - điều đó không bao giờ sai."
Vị phụ trách tiếp tục giải thích: "Điện hạ Ernst vẫn thường nhấn mạnh rằng, nông nghiệp là ngành dễ dàng đạt được sự tự chủ nhất. Bởi vì không ai có thể sống mà không ăn, còn để phát triển công nghiệp lại cần hội tụ rất nhiều điều kiện, ngưỡng đầu vào rất cao. Các quốc gia đi trước luôn cập nhật công nghệ không ngừng nghỉ, khiến ngưỡng công nghiệp hóa của các nước đi sau ngày càng bị nâng cao."
"Ví dụ như ở Đông Phi hiện tại, chúng ta thiếu hầu hết các điều kiện cơ bản để tiến hành công nghiệp hóa: cư dân chủ yếu xuất thân từ nông thôn, hiểu biết gần như bằng không về công nghiệp; sản lượng lương thực hiện tại còn chưa đủ để hỗ trợ cho quá trình công nghiệp hóa quy mô lớn, nguyên liệu đầu vào không ổn định; giao thông thì càng kém hơn, thậm chí còn thua xa nhiều quốc gia lạc hậu khác, mật độ và chiều dài đường đất còn chưa bằng những nơi có chút lịch sử."
"Muốn phát triển công nghiệp, điều tối thiểu là phải nhập máy móc thiết bị từ châu Âu. Nhưng tập đoàn Hechingen cũng cần lợi nhuận, Đông Phi hiện tại lại chưa có năng lực nhập khẩu công nghiệp quy mô lớn."
Maximiliano I lặng nghe người phụ trách nhà máy chế biến sisal, chìm vào suy tư. hắn nhớ lại trải nghiệm đời mình.
Từ trước đến nay, hắn vẫn tin tưởng vào chủ nghĩa tự do. Khi còn trẻ (25 tuổi đã được phong làm Tổng đốc Lombardy và Venice), hắn đã mạnh dạn thực thi nhiều chính sách được cho là tiến bộ và nhân đạo. Song điều đó lại dẫn đến sự bất mãn từ hoàng huynh, kết quả là bị bãi miễn chức vụ.
Cũng vì lý do đó, hắn mới quyết định sang Mexico, với khát vọng chứng minh mình không phải là một kẻ sống trong thế giới lý tưởng viển vông, mà là một người có thể thực hiện chính sách thực dụng giúp quốc gia phát triển.
Đáng tiếc, thực tế lại vô cùng phũ phàng. Người Mexico không hề đón nhận hắn, thậm chí còn muốn xử tử hắn. Tất cả mọi tầng lớp, hắn đều đắc tội. Nhìn lại mới thấy, Mexico vốn dĩ không phải là đất lành cho một quân chủ.
Người Mexico chịu ảnh hưởng sâu sắc của tư tưởng cộng hòa, hơn nữa lòng tin của dân chúng đã bị hao mòn nghiêm trọng bởi chế độ quân chủ trước đó. Việc hắn đến Mexicongay từ đầu đã là một quyết định sai lầm.
Đương nhiên, Maximilian I cũng bị lừa gạt. Lúc ấy, người Pháp đã ngụy tạo một bản khảo sát dân ý giả mạo, lừa hắn - trong cơn say chiến thắng - sang Mexico làm “vật tế thần”.
Sự khác biệt là: người Mexico là bên chọn nhà lãnh đạo cho mình, còn ở Đông Phi thì chính Ernst mới là người chọn dân chúng để trị vì. Chính vì vậy, tại Đông Phi, lệnh ban ra đều được tuân thủ nghiêm túc, Ernst cũng có thể toàn tâm phát huy tài năng lãnh đạo. Maximilian I nghĩ đến đó, càng thêm cảm phục.
Ngày 11 tháng 9 năm 1867 Cảng Mtwara
"1… 2… 3… Hây da! 1… 2… 3…"
Tại cầu cảng, hàng trăm công nhân bốc vác đang hò nhau hết sức khiêng những khẩu pháo hạng nặng được dỡ từ tàu biển xuống. Đây là những khẩu pháo cỡ lớn được vận chuyển từ Đế quốc Áo-Hung sang. Do Đông Phi chưa có thiết bị bốc dỡ chuyên dụng, toàn bộ quá trình chỉ có thể nhờ sức người.
Gần đây, toàn bộ xi măng nhập khẩu vào Đông Phi đều được dồn cho việc xây dựng các công trình phòng thủ ven cảng.
Ernst bị ảnh hưởng sâu sắc từ cuộc Chiến tranh Paraguay, hắn bất ngờ nhận ra rằng vị trí địa lý của Đông Phi trong lục địa châu Phi lại có phần tương đồng với Paraguay ở Nam Mỹ - đều nằm ở khu vực trung tâm hơi lệch về phía đông. Khác biệt ở chỗ, Paraguay không có đường ra biển, còn Đông Phi lại sở hữu một dải bờ biển dài.
Và chính điều đó vừa là ưu thế, vừa là bất lợi của Đông Phi: ưu thế là tiềm năng phát triển nhờ có nhiều cảng biển, bất lợi là phải đối mặt với nhiều mối đe dọa từ đường biển.
Hiện tại, Đông Phi chưa có hải quân, điều này chẳng khác nào mở toang cánh cửa hướng ra Ấn Độ Dương, không có gì che chắn.
Muốn đối phó với các mối đe dọa đến từ Ấn Độ Dương, chỉ có hai con đường: Một là xây dựng lực lượng hải quân của riêng mình. Hai là thiết lập các công trình phòng thủ ven biển - đặc biệt là các trận địa pháo cố định có khả năng phản công.
Nhưng hải quân… lại là ngành tiêu tốn tiền bạc cực lớn. Nếu quy mô nhỏ thì chẳng làm được gì ngoài dọa dẫm vài chiếc thuyền đánh cá; thậm chí còn không chống nổi tàu buôn vũ trang.
Chưa kể, hải quân là một binh chủng mang tính kỹ thuật cao, không thể thiếu kinh nghiệm và huấn luyện lâu dài mới có thể phát huy hết sức mạnh. Với thực lực kinh tế hiện tại của Đông Phi, tốt nhất vẫn nên thành thật tập trung vào hệ thống pháo bờ biển.
Đúng lúc này, từ châu Âu đang có một đợt "cửa sổ cơ hội" rất tốt: sau trận hải chiến tại Lissa giữa Áo và Ý, các cường quốc châu Âu bắt đầu nâng cấp toàn diện lực lượng hải quân.
Nhiều chiến hạm cũ lần lượt bị cho nghỉ hưu, và dĩ nhiên các khẩu pháo cỡ lớn trên tàu cũng bị tháo dỡ. Một số quốc gia sẽ giữ lại để dùng làm pháo phòng thủ bờ biển, số khác thì tìm người mua lại.
Ernst đã tranh thủ cơ hội này để "vớt" được một lô pháo cỡ lớn đã qua sử dụng từ hải quân Áo-Hung. Tuy là pháo cũ, nhưng vẫn cực kỳ chắc chắn và đáng tin cậy, vượt xa những khẩu pháo cổ lỗ sĩ mà Vương quốc Zanzibar để lại, đủ sức tạo uy lực răn đe.
Mtwara - cảng biển phía nam Đông Phi - nhờ nằm gần châu Âu hơn nên trở thành nơi đầu tiên nhận được những khẩu pháo này. Đây cũng là điểm đến đầu tiên của mọi tàu thuyền từ châu Âu ghé sang Đông Phi.
Nhận được thông tin từ trước, cảng Mtwara đã chủ động xây dựng sẵn nền móng cho các trận địa pháo. Bản thiết kế được thực hiện bởi chuyên gia từ Bộ Hải quân Áo-Hung, thuộc hàng tiên tiến nhất thời đại.
Hiện giờ chỉ còn chờ đưa pháo lên bệ và căn chỉnh, rồi có thể sẵn sàng chiến đấu.
Sau khi công nhân đổ mồ hôi nước mắt đưa từng khẩu pháo vào đúng vị trí, các cố vấn hải quân đi theo tàu từ Áo-Hung đã đích thân chỉ đạo việc nạp đạn và lựa chọn mục tiêu bắn thử.
Mọi khâu chuẩn bị đã hoàn tất, nòng pháo được xoay về phía một vật thể nổi được sơn đỏ đang trôi trên mặt biển - mục tiêu thử nghiệm.
"Bắn!"
"Ầm…!"
Một tiếng nổ long trời lở đất, kèm theo là làn khói cuồn cuộn phụt ra từ miệng pháo. Quả đạn bay vút đi, rơi chính xác vào khu vực đã định, phát nổ dữ dội.
Ngay lập tức, mặt biển nơi đó tung lên cột nước khổng lồ, vật thể nổi bị xé nát tan tành, bắn tung tóe lên không trung.
Các kỹ thuật viên và binh sĩ đứng gần điểm khai hỏa đều cảm nhận rõ áp lực không khí, tai ù đi vì âm thanh vang dội. Nhưng không ai nghi ngờ sức mạnh của khẩu pháo - đủ sức đối phó với các tàu vũ trang lớn thời nay.
Dĩ nhiên, điểm yếu cũng không thể bỏ qua: đạn pháo vẫn phải nhập khẩu từ Áo-Hung, giá thành lại cao. Bởi vậy, không thể bắn bừa bãi. Trong thời gian tới, cần tăng cường huấn luyện pháo thủ để nâng cao kỹ năng, giảm thiểu việc lãng phí đạn dược.