Thị trấn Omorat tọa lạc tại bờ đông sông Omo thuộc Kenya, hiện là khu định cư cực bắc của thuộc địa Đông Phi.
Dưới sự hỗ trợ toàn lực của chính quyền Nairobi, một lượng lớn di dân đã được điều động tới đây trong thời gian ngắn, nâng tổng dân số lên hơn 800 người.
Chính quyền Nairobi huy động toàn bộ phương tiện vận tải để di chuyển những di dân từ Mombasa - vượt hành trình dài về phía tây tới Nairobi - tiếp tục tới khu vực Omorat.
Đáng thương cho chính quyền Nairobi! Trong bàn cờ Đông Phi, họ chẳng thu được gì mà còn phải liên tục hỗ trợ các vùng khác của Kenya, làm chậm trễ phát triển địa phương.
Là thủ đô Kenya kiếp trước, Nairobi chia sẻ số phận với Dodoma - thủ đô Tanzania tương lai. Hai thành phố này đúng là "Đôi bạn chung vận mệnh", kiếp trước rực rỡ bao nhiêu thì giờ đây lại thê lương bấy nhiêu.
Tất nhiên, vì Dodoma được khai phá sớm nên tình hình còn đỡ hơn nhiều, ít nhất cũng đã tích lũy được dân số đủ lớn. Còn Nairobi thì ngay từ đầu khi xây dựng đã bị phân tán bớt dân số để đi xây dựng đồn điền cà phê ở phía Bắc, giờ vẫn chưa kịp rảnh tay lại phải tiếp tục hỗ trợ phát triển thị trấn Omorat.
Hai thành phố này hoàn toàn không thể so sánh với vị thế của kiếp trước. Nhưng đó là thực trạng chung của thuộc địa Đông Phi: càng vào trung tâm, đô thị càng phát triển chậm.
Trái lại, hàng loạt thành phố vùng biên lại phát triển mạnh mẽ. Omorat chính là một "thành phố biên viễn" như thế.
Omorat là "cái mốc" đầu tiên Đông Phi đóng xuống lưu vực sông Omo. Để nhanh chóng chiếm giữ, họ thậm chí chưa kịp thanh lọc thổ dân địa phương.
Vì sao lại chọn Omorat làm thành phố cực bắc hiện tại? Đó là vì điều kiện địa lý nơi đây tốt, đất đai bằng phẳng, dễ khai phá.
Tiến xa hơn dọc sông Omo về phía bắc chỉ toàn núi non hiểm trở. Thượng nguồn sông Omo quanh co khúc khuỷu, uốn lượn đến mức từ ngữ khó lòng diễn tả hết.
Không trách kiếp trước Ethiopia xây đập thủy điện ở thượng nguồn - tài nguyên thủy năng ở đó thực sự rất dồi dào.
Phía nam Omorat là châu thổ sông Omo, cách hồ Turkana khoảng hơn 30 km.
Châu thổ này là nơi sinh sống của các bộ lạc sống bằng nghề đánh cá, nên Omorat đã tránh khỏi vùng châu thổ và được xây dựng lùi về phía bắc.
Vị trí này cực kỳ lý tưởng: đất đai phì nhiêu chưa từng được khai phá bởi dân bản địa, được phù sa sông Omo bồi đắp hàng nghìn năm lại ít bị ảnh hưởng bởi lũ lụt.
Việc thành lập thị trấn Omorat cũng theo đúng mô hình quen thuộc của Đông Phi khi mở rộng — trước tiên khoanh vùng đất lại, sau đó từ từ “mời” chủ cũ ra đi.
Vùng đất bị khoanh sẽ chính thức thuộc về thuộc địa Đông Phi. Trước đây, Ernst từng dùng chiêu này để chiếm trọn cao nguyên nội địa Tanzania.
Các thành phố như Mwanza, Kigoma, Mbeya, Karonga... trở thành những "cái mốc" bao quanh vùng Tanganyika (gọi chung là cao nguyên nội địa), tách biệt Tanganyika khỏi các thế lực bên ngoài.
Sau đó dùng di dân chiếm lấy hoàn toàn đất trong vùng đã khoanh, dần dần biến cả khu vực Tanganyika thành tài sản của thuộc địa Đông Phi.
Riêng Kenya bị chiếm bằng chiến tranh nên không áp dụng mô hình này.
Việc thiết lập Omorat một lần nữa thể hiện "tuyệt chiêu" bành trướng sở trường của Đông Phi.
Ngay từ khi thành lập, Omorat đã chia cắt các thế lực Ethiopia (bao gồm cả Đế quốc Abyssinia) với vùng đất phía nam.
Khi các làng mạc phụ thuộc vào Omorat được xây dựng và hoàn thiện, những thế lực đó sẽ bị chặn đường liên hệ và tiến vào miền bắc Kenya.
Vùng đất rộng lớn quanh hồ Turkana (khoảng 500.000 km²) sẽ trở thành "món đồ trong túi" của Đông Phi, có thể từ từ tiêu hóa từ hai hướng nam (Nairobi) và bắc (Omorat).
Là hồ nước mặn, khu vực quanh Turkana có ít bộ lạc sinh sống. Một khi bị cô lập, họ chỉ còn là "con mồi" chờ bị săn.
Lượng mưa trong lưu vực sông Omo dao động từ 1500mm đến 2000mm, nên hạ lưu như Omorat không hề thiếu nước, có thể trồng lúa quy mô lớn để nuôi sống người di cư.
Khác với Omorat, khu vực hồ Turkana và phía đông Kenya không thích hợp để trồng trọt quy mô lớn.
Sa mạc và thảo nguyên đan xen khiến nơi đây được quy hoạch thành đồng cỏ - hình thức khai thác đất đai có giá trị kinh tế thấp nhất tại Đông Phi.
Toàn bộ cao nguyên Đông Phi là khí hậu thảo nguyên nhiệt đới, không hề thiếu đồng cỏ, mà khu vực phía nam còn có lượng mưa lớn hơn, cỏ nước cũng phong phú hơn.
Hơn nữa, Đông Phi hiện có lượng lớn đất chưa khai phá, ngay cả vùng Thượng Duyên Hải đông dân nhất vẫn còn nhiều đồng cỏ và rừng rậm.
Điều kiện tự nhiên bắc Kenya hoàn toàn không có gì nổi bật, chỉ vì mục đích "di dân thực biên" mới được ưu tiên phát triển chăn nuôi.
Nhưng chăn thả ở đây không hề dễ dàng. Đông Phi áp dụng mô hình "chăn nuôi vũ trang".
Ngoài Sahara thực sự cằn cỗi, hầu hết châu Phi đều đầy rẫy thú hoang. Ngay cả sa mạc Kalahari phía nam cũng là thiên đường của động vật hoang dã.
Bắc Kenya dù điều kiện khắc nghiệt nhưng số lượng thú hoang như sư tử, báo, linh cẩu... vẫn rất lớn.
Với tư cách là vùng chăn nuôi quy hoạch lớn của Đông Phi, dân cư miền bắc Kenya chắc chắn không thể nhiều, không thể nào so với số lượng động vật hoang dã.
Thú dữ sẽ đe dọa gia súc của thuộc địa. Thời này chưa có hàng rào điện hay lưới thép ngăn cách.
Dù có, Đông Phi cũng không đủ khả năng trang bị. Thứ họ có đủ chính là súng ống.
Số lượng súng tại Đông Phi vào khoảng hơn 100.000 khẩu, trung bình 5 người 1 khẩu.
Mang súng đi chăn thả vừa rẻ vừa an toàn. Đông Phi thậm chí có thể tự sản xuất số lượng nhỏ.
Kế hoạch của thuộc địa là: chọn khu chăn thả, tổ chức lực lượng tiêu diệt toàn bộ thú hoang trong phạm vi, sau đó thành lập các nhóm chăn thả.
Mỗi nhóm phụ trách khu vực riêng, trang bị vũ khí để tuần tra, ngăn thú dữ và thổ dân quấy nhiễu.
Nói đến thổ dân, người chăn nuôi còn có nhiệm vụ bắt giữ những kẻ xâm nhập, giao nộp cho cấp trên đưa về phía nam.
Cứ thế, bắc Kenya sẽ được phủ kín bởi các khu chăn thả, không gian sống của thổ dân ngày càng thu hẹp. Nếu chống cự hoặc xâm nhập, họ sẽ bị bắt giữ.
Khi nào toàn bộ Kenya được phủ đầy bởi đồng cỏ và đồn điền, thì đó là lúc người bản địa bị “quét sạch” hoàn toàn.
Đó là kế hoạch thô sơ nhưng hiệu quả để khai phá bắc Kenya.
Khác với khu vực rộng lớn của miền bắc Kenya, thị trấn Omorat có vị trí chính trị và kinh tế đặc biệt.
Đây là vùng nông nghiệp trọng điểm, giáp Ethiopia, thông thẳng tới Sudan về phía tây bắc, có giá trị chiến lược và kinh tế cao.
Việc chiếm đóng còn xuất phát từ tính toán tương lai. Giống như nỗi đau đầu của người Mỹ với làn sóng nhập cư trái phép từ Nam Mỹ kiếp trước, Đông Phi chắc chắn cũng sẽ đối mặt tình huống tương tự.
Người dân bắc Ethiopia còn đỡ, nhiều người có ngoại hình lai Arab hoặc Bắc Phi da sáng. Nhưng nam Ethiopia và Somalia tập trung lượng lớn người da đen thuần chủng - mối lo với Ernst trong nỗ lực thanh lọc dân da đen.
Theo kinh nghiệm kiếp trước, màu da đen dù ở đâu cũng nổi bật (trừ ban đêm). Để ngăn người da đen xuất hiện tại Đông Phi, chỉ thanh lọc trong lãnh thổ là không đủ.
Phải xử lý cả những bộ tộc da đen ở vùng lân cận, nếu không trong tương lai họ chắc chắn sẽ đổ vào Đông Phi. Với hiểu biết của Ernst về giới quan liêu và tư bản, họ sẵn sàng làm mọi thứ vì lợi nhuận.
Như chính sách hợp pháp hóa người nhập cư trái phép Mỹ Latinh của chính trị gia Mỹ kiếp trước - cuối cùng chỉ người dân thường chịu thiệt (Chính phủ Mỹ muốn tạo áp lực cạnh tranh, chia rẽ khối đoàn kết dân nghèo... Dù sao với giới thượng tầng, đó là chính sách "lợi trăm đường").
Dù nhân dân Mỹ có chịu thiệt hay không, lũ sâu mọt cầm quyền không bao giờ thiệt. Chúng chỉ kiếm được ít hay nhiều. Ngay cả nước Mỹ sụp đổ vì những chính sách tồi tệ, với nguồn vốn và vũ lực trong tay, chúng vẫn có thể mở mặt trận mới (chạy sang nước khác).
(Hết chương)
Chú thích: [1] Đế quốc Abyssinia: Tên gọi cũ của Ethiopia trước năm 1974, từng là quốc gia duy nhất ở châu Phi không bị thực dân hóa. [3] Di dân thực biên: Chính sách di dân tới vùng biên giới để củng cố chủ quyền, thường áp dụng bởi các quốc gia có lãnh thổ rộng.
------oOo------