Sự thật chứng minh rằng Franz không thực sự coi trọng chuyện này, với thân phận là quân chủ một quốc gia, mỗi ngày hắn đều bận rộn với quốc sự.
Còn về vấn đề giáo dục của tiểu Rudolf, Franz vẫn khá tin tưởng vào mẫu thân của mình, dù sao thì năm xưa hắn cũng lớn lên theo cách đó.
Kỳ thực đây là một thái độ khá vô trách nhiệm - có người theo đuổi sự hoàn mỹ, có người thì cho rằng tạm được là đủ. Có lẽ Franz không tự nhận thức được điều đó, nhưng quả thật tiết kiệm được rất nhiều công sức.
…
Thế là, đáng thương thay, tiểu Rudolf rơi vào móng vuốt của Ernst, hắn vẫn chưa biết cuộc sống sắp tới sẽ ra sao.
“Tỷ tỷ ơi tạm biệt, tổ mẫu tạm biệt ạ!” - Tiểu Rudolf vẫy tay chào tạm biệt hai người chị (công chúa Gisela ruột thịt và Karina), cùng tổ mẫu của mình.
“Ernst! Rudolf giao cho cháu trong một thời gian, cháu nhất định phải trông nom nó cẩn thận, tuyệt đối không được để việc học bị lơ là.” - Thái hậu Sophie căn dặn.
“Xin hãy yên tâm, thưa Thái hậu. Cháu đưa Rudolf đi là để nó tiếp nhận nền giáo dục hoàn chỉnh và tiên tiến hơn. Những người nó gặp đều là các quý tộc xuất sắc đến từ khắp châu Âu.” - Ernst cam kết.
“Bảo bối, phải tự chăm sóc bản thân nhé!” - Thái hậu Sophie hôn lên trán Rudolf để từ biệt.
“Đi thôi!” - Ernst ra lệnh cho xa phu. Người đánh xe vung roi quất vào mông ngựa, đoàn xe từ từ lăn bánh.
Khi chiếc xe ngựa khuất dần khỏi tầm mắt, Thái hậu Sophie mới hoàn hồn lại. Chuyến đi này của Rudolf, rốt cuộc là phúc hay họa vẫn chưa biết được, dù sao cũng chỉ ba tháng, không phải chuyện lớn.
…
“Rudolf, ngươi thấy cảnh vật trên đường thế nào?” - Ernst nhìn ra ngoài cửa sổ toa tàu, nơi cánh đồng xanh lùi lại vùn vụt, quay sang hỏi Rudolf.
“Ernst ca ca, hôm qua thì còn ổn, cảnh vật bên ngoài đúng là rất lạ, trong cung chưa bao giờ thấy qua, rất mới mẻ. Nhưng về sau thì mệt quá, ta cảm giác như xương cốt đều rã rời cả rồi.” - Rudolf than vãn.
Rudolf nói vậy bởi Ernst đang đưa cậu ta đi Bắc Đức bằng tàu hỏa.
Tàu hơi nước thời kỳ này, có thể tưởng tượng được là kém xa tiêu chuẩn thoải mái, hơn nữa Ernst còn cố tình đặt chỗ ngồi cứng.
Trong toa tàu chỉ có Ernst và Rudolf, cùng với đội cận vệ và trợ lý của Ernst.
Thật ra, với thân phận của Ernst, hoàn toàn có thể đặt một khoang hạng nhất tiện nghi cao cấp. Nhưng những khoang sang trọng ấy lại thiếu mất hương vị toa ngồi cứng tàu xanh lá hồi nhỏ trong ký ức tiền kiếp của hắn.
Ernst muốn để Rudolf cảm nhận sự vất vả khi dân thường đi lại: tàu hơi nước xóc nảy, đường sắt gập ghềnh, ghế cứng đau lưng, tiếng ồn đinh tai và hành trình kéo dài hơn mười tiếng đồng hồ.
Đừng nói Rudolf, ngay cả Ernst cũng thấy mệt mỏi. Nhưng vì mang theo tâm trạng “nhớ lại gian khổ để biết trân trọng”, nên hắn ngược lại lại thấy thú vị. Còn Rudolf thì đúng là khốn khổ, từ nhỏ đến lớn, cậu ta nào từng chịu qua cảnh này.
Sau mười mấy tiếng đồng hồ dằn xóc, đoàn tàu cuối cùng cũng tới đích - Berlin.
Lần đầu xuất ngoại, lần đầu được nhìn thấy thủ đô các quốc gia khác, Rudolf cảm thấy mọi thứ đều rất mới mẻ. Không khí ở Phổ so với Vienna có phần nghiêm cẩn và có trật tự hơn - một cảm giác tự thân thành phố phát ra, không thể nói bằng lời, chỉ có thể cảm nhận.
Ernst đã chuẩn bị sẵn cho Rudolf một giáo trình giáo dục hoàn chỉnh, toàn bộ lịch trình đều kín mít. Đương nhiên, nội dung này có hơi lệch một chút so với lời hắn hứa với Thái hậu Sophie.
Ngoài chương trình học cố định, Rudolf còn phải giao lưu với hoàng thất Phổ, tham quan các thành tựu công nghiệp của Phổ, thậm chí còn được sắp xếp đến học tập một tháng tại Học viện Quân sự Hechingen.
Ernst đặc biệt chú trọng vào việc thiết lập một nền giáo dục xã hội bổ sung cho nền giáo dục cung đình.
Tựa như ở tiền kiếp, rất nhiều gia đình tại Hoa Hạ thiếu sót về giáo dục trong nhà, nhưng nền giáo dục học đường lại bù đắp phần thiếu đó.
Giáo dục gia đình tốt luôn có ưu thế hơn giáo dục xã hội như nhà trường. Nhưng đáng tiếc, nhiều gia đình lại thất bại. Căn cứ vào kiếp trước của Rudolf, thì gia đình hắn chính là ví dụ thất bại tiêu biểu nhất. Bởi vậy, Ernst muốn mô phỏng nền giáo dục kiểu thi cử của tiền kiếp để cưỡng chế truyền đạt cho Rudolf một bộ tư duy của người bình thường.
“Vật tụ theo loài, người phân theo nhóm” - cho Rudolf tiếp xúc nhiều với những người ưu tú, nhất định sẽ ảnh hưởng đến tương lai của hắn.
Lợi ích của giáo dục kiểu thi cử rất rõ ràng: chính là “cuốn theo dòng”. Cuốn đến mức Rudolf không còn thời gian để suy nghĩ hay than thở.
Đó là điều mà giáo dục cung đình không thể sánh kịp. Giáo dục cung đình chỉ phục vụ cho riêng Rudolf, tất cả giáo viên đều xoay quanh một mình hắn, chỉ cần nhồi nhét kiến thức vào đầu hắn là đủ.
Còn với nền giáo dục thi cử, Rudolf sẽ có đối thủ cạnh tranh. Ernst chuẩn bị cho hắn ta nếm trải nỗi đáng sợ của thi cử - cảm giác bị bao quanh bởi những thiên tài đồng lứa.
Còn chuyện giáo dục thi cử có giết chết thiên tính và sức tưởng tượng hay không - cho dù đúng là như vậy, thì đối với Rudolf cũng chẳng có hại gì. Franz vốn muốn bồi dưỡng Rudolf thành một vị vua biết giữ nền, nhưng theo cái nhìn từ kiếp trước, Franz đã thất bại.
Chính dưới áp lực thi cử, Rudolf mới có thể thật sự kết giao được một vài bằng hữu tâm giao. Không giống như những kẻ chủ động đến nịnh hót, bạn học của cậu ta giờ đây đều là những kẻ “đồng cam cộng khổ”.
…
Ngày 10 tháng 2 năm 1868.
Hôm nay, chính phủ trung ương Đông Phi ban hành một công văn mới đến các địa phương, nội dung yêu cầu triển khai đào giếng trên toàn bộ lãnh thổ thuộc địa Đông Phi.
Chỉ cần nhìn nội dung công văn này, cũng đủ thấy Đông Phi còn lạc hậu đến mức nào. Ở hầu hết các quốc gia và khu vực khác (trừ châu Phi), việc đào giếng lẽ ra là hành vi tự phát của dân chúng.
Mỗi ngày chính quyền Đông Phi xử lý các việc vặt thế này, thoạt nhìn không giống đang điều hành một quốc gia, mà là đang quản lý một ngôi làng lớn.
Tài nguyên nước ở Đông Phi đương nhiên là rất phong phú, các thôn làng và thị trấn đều nằm gần nguồn nước.
Vậy vì sao Ernst lại phát động phong trào “đào giếng” ở Đông Phi?
Điều này phải xem báo cáo dữ liệu của chính quyền Đông Phi: cho đến hiện tại, nguồn nước uống của dân di cư Đông Phi chủ yếu đến từ sông ngòi và hồ đầm.
Nhưng các dòng sông và hồ ở Đông Phi, không sạch sẽ như tưởng tượng. Dùng cho tưới tiêu nông nghiệp còn chấp nhận được. Nhưng khi mùa mưa đến, hoặc vào mùa hạn, nhiều con sông và vùng nước trở nên đục ngầu như bùn loãng.
Một số nơi còn trầm trọng hơn: hà mã tụ tập cùng một khúc sông, chất thải của chúng làm ô nhiễm cả nguồn nước. Cá trong đó còn bị “xông chết” (nghe nói là do thiếu oxy mà chết).
Do đó, nước sông hồ ở Đông Phi khi dùng làm nước uống, bắt buộc phải qua xử lý sơ bộ.
Thông thường, người dân sẽ đào hai bể lắng để lọc sơ nước sông. Nếu nước quá đục, sẽ thêm phèn trắng. Cuối cùng, phải đun sôi mới được uống.
Như vậy, nước uống của thuộc địa Đông Phi hoàn toàn phụ thuộc vào chất lượng nước mặt tại địa phương. Dù có biện pháp lọc đơn giản, vẫn có rất nhiều người bị bệnh - thậm chí tử vong - vì nguồn nước ô nhiễm.
Tuy vậy, vào thời kỳ này, phần lớn khu vực trên thế giới đều như thế. Mọi người đã quen, có người còn tiện tay múc nước sông hồ uống sống cũng rất bình thường.
Vì vậy, mọi chính sách của Đông Phi đều được thi hành một cách cưỡng chế. Nếu ai bị phát hiện vi phạm quy định của chính quyền thuộc địa, đều sẽ bị xử phạt.
Tóm lại, Đông Phi hiện nay đang thiếu trầm trọng nước uống sạch và an toàn. Ernst không kỳ vọng đạt được mức như hệ thống nước máy kiếp trước, chỉ cần đạt chuẩn nước giếng là đủ.
Nước giếng, tuy có thể đối mặt với nguy cơ chứa vi khuẩn, bụi bẩn hoặc khoáng chất vượt mức, nhưng vẫn an toàn hơn nước mặt ở sông hồ rất nhiều - nhất là so với những nguồn nước luôn vàng đục tại nhiều khu vực ở Đông Phi.
Dodoma, làng Fata.
“Đất chỗ này khá ẩm. Các ngươi nhìn xem, quanh đây chỉ có mảnh đất này là có nhiều hơi nước nhất.” - Jorah Mormont nói với dân làng.
Vừa nói, hắn ta vừa trực tiếp đào một nhúm đất dưới chân, rồi lấy thêm một nhúm khác ở khu vực khác.
“Nhìn đây, cục đất này - ta bóp một cái là nó kết thành khối. Còn cục bên kia, bóp một cái là nó vụn ra ngay! Cho nên bên dưới chỗ này, rất có khả năng là có mạch nước.” - Jorah Mormont trình bày phán đoán của mình.
Jorah Mormont là một di dân từ Đế quốc Áo-Hung, người Serbia, từng sống ở Hungary. Hắn ta từng có chút kinh nghiệm đào giếng - nhưng chỉ là kinh nghiệm.
“Vậy thì đào thử ở đây trước xem sao!” - vị trưởng thôn người Đức ra quyết định.
Thế là hơn chục dân làng bắt đầu đào bới tại chỗ này, dùng công cụ rất đơn sơ: chỉ có xẻng sắt và cuốc.
Dân làng phụ trách chuẩn bị vật liệu xây như gạch đá và dây mây - để xây thành giếng.
Jorah Mormont đảm trách công việc chính. Khi đào đến khoảng nửa mét, họ bắt đầu xây thành giếng bằng gạch và dây mây - dây mây chủ yếu dùng để cố định.
Mỗi lần xây xong một vòng, Jorah và trợ thủ lại tiếp tục đào xuống sát đáy thành giếng. Trên mặt đất, dân làng dùng gầu gỗ buộc dây kéo đất lên.
Trời dần về chiều. Sau gần một ngày vất vả, giếng nước dần thành hình, đã đào sâu hơn mười mét nhưng vẫn chưa thấy nước.
“Bây giờ sâu bao nhiêu rồi?” - trưởng thôn hỏi.
Có người mang dây đo, thả xuống giếng từ miệng giếng.
“Thưa trưởng thôn, còn khoảng bốn mét nữa là tới hai mươi mét!”
“Được! Hôm nay chúng ta cố gắng tăng ca, xem có ra nước không. Nếu đào đến hai mươi mét vẫn chưa có, mai ta đổi chỗ khác đào lại.” - trưởng thôn nói dứt khoát.
Lúc này dưới đáy giếng, Jorah Mormont lên tiếng: “Thưa trưởng thôn, đừng lo. Đào thêm vài mét nữa chắc chắn ra nước. Đất càng xuống dưới càng ẩm. Theo kinh nghiệm trước kia ta đào ở Hungary, khoảng mười mét là ra nước rồi - xem ra đất châu Phi này vẫn khác đất châu Âu.”
Nghe vậy, mọi người lập tức tăng tốc độ đào. Quả nhiên, chưa đầy một mét sau, Jorah Mormont bổ một nhát xẻng - nước bắt đầu trào lên từ lòng đất.
“Ra nước rồi! Ra nước rồi!” - Jorah Mormont phấn khích reo to.
“Được rồi, kéo hắn ta lên trước đi.” - trưởng thôn nói.
Dân làng dùng chiếc thang gỗ tự chế, thả xuống giếng, Jorah từ từ leo lên.
Thế là, chiếc giếng nước đầu tiên của làng Fata đã chính thức ra đời.
Hiện tại ở Đông Phi, giếng nước chủ yếu phục vụ sinh hoạt cho cư dân. Mỗi làng chỉ cần đào một hai giếng là đủ dùng cho cả làng.
Còn về tưới tiêu nông nghiệp, vẫn dùng nước mặt từ sông hồ, kể cả cho gia súc uống cũng vậy.
Việc khai thác và sử dụng giếng nước đã nâng cao đáng kể độ an toàn của nước sinh hoạt ở Đông Phi, đồng thời thu hẹp môi trường sinh tồn của các loại dịch bệnh.
Trước khi nhà máy nước máy đầu tiên ở Đông Phi được xây dựng, giếng nước là nguồn cung cấp chính cho nước sinh hoạt. Có những giếng đã phục vụ suốt mấy chục năm, mãi về sau mới bị nước máy thay thế. Còn ở những nơi cực kỳ khan hiếm nước, giếng nước vẫn sẽ giữ vai trò không thể thay thế.