“Đám thổ dân này giao cho tiên sinh, ngài Abrag. Hợp tác vui vẻ nhé.” Nhân viên Đông Phi bàn giao một nhóm nô lệ cho lái buôn nô lệ người Zanzibar.
“Dĩ nhiên rồi, bạn tôi. Chúc may mắn!” Abrag đáp.
Sau đó, hắn ra lệnh cho thuộc hạ xích chân những người thổ dân này lại, thế là lại một đoàn nô lệ nữa rời khỏi Đông Phi.
Abrag là đối tác lâu năm của thuộc địa Đông Phi, cha hắn là đại thần của Vương quốc Hồi giáo Zanzibar.
Một đoàn người dài dằng dặc, dưới sự giám sát của đám cai đánh thuê, chậm rãi tiến về phía bến tàu.
“Đồ súc sinh! Đừng có quay đầu lại nữa! Từ hôm nay trở đi, bọn mày sẽ không bao giờ quay về được đâu! Tốt nhất là chết tâm đi!” — Đám người Zanzibar dùng tiếng Swahili để đánh đòn tâm lý những thổ dân này.
Đó là một quy trình quen thuộc trong hoạt động buôn bán nô lệ — đánh tan hy vọng cuối cùng trong lòng họ.
Trở thành nô lệ, với người da đen vốn chẳng phải điều gì đáng sợ, bởi họ vẫn sống trong thời đại bộ lạc. Trên lục địa châu Phi, bộ lạc này xung đột với bộ lạc kia, kẻ thất bại bị bắt làm nô lệ là chuyện thường như cơm bữa.
Trong thời kỳ bộ lạc, mỗi bộ lạc đều bắt tù binh của bộ lạc địch làm nô lệ, hoặc ngược lại, bị bắt làm nô lệ cũng không hiếm.
Nói cách khác, nô lệ là thứ quen thuộc trên lục địa châu Phi. Nên khi bị bắt làm nô lệ, đám thổ dân này cũng chẳng quá hoảng loạn — bởi thế giới quan của họ chính là: “kẻ thất bại trở thành nô lệ”.
Thậm chí, trong mắt một số người thổ dân, làm nô lệ ở Đông Phi còn không tệ!
Không phải nói bừa — dưới “Sự huấn luyện” của thuộc địa Đông Phi, cuộc sống của nô lệ da đen này coi như chấp nhận được. Tuy hơi vất vả, nhưng mỗi ngày đều được ăn đủ no.
Bởi chính họ từng thấy bộ lạc mình đối xử với nô lệ ra sao — đánh đập, mắng chửi, ép lao động nặng nhọc là chuyện thường tình; tàn phế, cụt tay gãy chân chẳng ai buồn hỏi; lúc thiếu lương thực thì…
So với cách làm của bộ lạc, phương thức quản lý của thuộc địa Đông Phi đúng là như Phật sống tái thế.
Vậy nên điều đám thổ dân thực sự sợ, không phải là bị bắt làm nô lệ — mà là những chiếc thuyền lớn ngoài biển khơi.
Vì chúng biết: lên thuyền rồi là rời khỏi mảnh đất quê hương này mãi mãi, cả đời sẽ chẳng thể quay về!
Đó là lý do những lái buôn nô lệ giàu kinh nghiệm như người Zanzibar luôn tìm cách đánh tan nỗi “nhớ nhà” trong lòng bọn chúng. Bằng không, nô lệ rất dễ gây bạo động khi lên thuyền.
Không có cách nào hiệu quả và tiện lợi hơn là đánh đập và chửi mắng — có thể nhanh chóng chuyển hướng sự chú ý của họ.
Quả nhiên rất hiệu quả. Dưới đòn roi và tiếng quát tháo, lại thêm trước đó đã bị “huấn luyện” bởi thuộc địa Đông Phi, đám nô lệ này chẳng bao lâu đã trở nên ngoan ngoãn.
“Đám hàng hóa và đám nô lệ này tách riêng ra! Đừng để bọn thổ dân làm hỏng hàng. Hàng phải đặt lên cao, đừng để bị ẩm! Nếu hàng của ông đây mà bị hỏng dù chỉ một chút, thì bọn mày coi chừng đó!” — Abrag quát thuộc hạ.
“Vâng, thưa ông chủ.” Thuộc hạ răm rắp đáp.
Ngày càng nhiều lái buôn nô lệ bắt đầu dùng phương thức “vận chuyển người và hàng lẫn nhau”, đưa cả nô lệ lẫn hàng hóa sang Trung Đông tiêu thụ.
Hai năm gần đây, gió đổi chiều, việc buôn nô lệ càng lúc càng khó khăn. Với người Zanzibar, đám châu Âu đúng là “chó ăn cơm nhà, lo chuyện bao đồng”.
Trước kia mua bán nô lệ hăng nhất là bọn họ, giờ phát tài rồi lại quay sang phá bát cơm của người khác!
“Đám châu Âu” trong miệng người Zanzibar và Ả Rập nói chính là các nước Anh, Pháp. Bây giờ chủ nghĩa bài nô đang thịnh hành, đã có tàu bị bắt giữ rồi.
Nếu người châu Âu thật sự lương thiện đến thế, thì Abrag sẵn sàng… ăn phân ngược. Là người sống trên biển lâu năm, hắn ta thừa biết: biển cả thời này là nơi của ác quỷ đội lốt người, không có lấy một kẻ tử tế, mấy ông thánh đã bị quăng cho cá mập từ lâu rồi.
Đám con cháu châu Âu này — giờ không cần nô lệ nữa thì bắt đầu chơi trò đạo đức giả, thật buồn nôn.
Người bị ảnh hưởng bởi văn hóa Ả Rập là những kẻ giao thiệp nhiều nhất với phương Tây. Hai tôn giáo đánh nhau cả ngàn năm, ai chẳng hiểu ai?
Chẳng qua giờ đế quốc Ả Rập suy tàn, đám Âu Tây mới dám đứng trên đầu họ mà vênh váo như vậy.
Thời thế thế thời thời phải thế, mạnh yếu rõ ràng — Ả Rập đã yếu, không có thực lực thì không có tiếng nói. Nhưng người Zanzibar và các thương nhân Ả Rập khác dĩ nhiên không chịu ngồi chờ chết. Họ cũng bắt đầu chuyển hướng, nhưng từ bỏ món lợi nhuận kếch xù từ buôn nô lệ thì… không bao giờ!
Tàu vận chuyển nô lệ bất hợp pháp giờ đây được “gói ghém” thành tàu chở lao động, còn nô lệ được gắn mác “công nhân hợp pháp”.
Để tránh bị người châu Âu bắt bẻ, lái buôn còn giảm bớt số nô lệ trên tàu để tránh bị quy là “quá tải”. Ít ra thì nhìn từ bên ngoài là vậy.
Nhưng để kiếm thêm, nhiều thương nhân đã dùng không gian vốn để chở nô lệ, chuyển sang chất hàng.
Việc này chịu ảnh hưởng không nhỏ từ thuộc địa Đông Phi. Tập đoàn Hechingen vận chuyển hàng hóa sang khu vực Ả Rập, đa số đi theo tuyến Địa Trung Hải, từ các nhà máy ở Đế quốc Áo-Hung, qua các cảng quanh biển Adriatic, đến tận các quốc gia như Ottoman. Nhưng cũng có một phần hàng đổ về Đông Phi.
Những hàng công nghiệp này đối với người Zanzibar là vô cùng có giá trị. Điều quan trọng là… không cần trả tiền!
Tất nhiên hàng hóa Đông Phi cũng niêm yết giá rõ ràng — nhưng có thể dùng phụ nữ làm vật thế chấp.
Không tính phụ nữ da đen — chỉ cần không quá già là được. Thế thì dễ rồi. Người Zanzibar đâu chỉ buôn tuyến Trung Đông, họ còn đi cả Ấn Độ và Đông Nam Á.
Thời đại này, dân nghèo ở thuộc địa đúng là cùng khốn tận đáy. Vốn đã bị tầng lớp quý tộc bản xứ bóc lột, nay thêm thực dân — chẳng khác gì thêm một lũ ma cà rồng.
Đông Nam Á là nơi bị Hà Lan, Bồ Đào Nha khai thác mấy trăm năm rồi. Vì sao Đông Nam Á trở thành thuộc địa ưu việt? Vì dân số đông, khai phá sớm, và có nền văn minh — khác hẳn châu Phi hay châu Mỹ. Trước khi người châu Âu tới, người da đỏ châu Mỹ còn chơi đá, còn châu Phi thì…
Hơn nữa, nhiều hòn đảo phía nam Đông Nam Á đều là quốc gia Ả Rập (như Indonesia), nên thương nhân Ả Rập đến buôn bán là chuyện thường.
Thế nên người Zanzibar có đủ kênh buôn bán đa dạng. Chỉ cần mua chuộc giới quý tộc bản địa, là có thể thu gom người tùy ý — dù sao ở thuộc địa, nhân quyền chẳng là cái gì cả.
Đám quý tộc này đa phần là tay sai của thực dân châu Âu. Họ được dùng để quản lý và trấn áp dân bản địa, nên trước lợi ích thì đừng mong có chút liêm sỉ.
Vừa hay, là kẻ “có máu mặt” tại địa phương, chúng làm việc ác không kiêng dè. Dân đen ở thuộc địa không mấy ai được ăn no, điều kiện sống cực kỳ tệ hại.
Khi đáy xã hội không còn cách nào sống tiếp mà vẫn còn thở, họ sẽ sinh ra nỗi sợ — bởi cả thực dân lẫn quý tộc bản xứ đều có thể định đoạt sinh mạng của họ chỉ trong một câu nói. Nhưng chẳng ai dám làm chim đầu đàn — vì hiện giờ, vẫn còn “được sống”.
Vì sự sống, mọi đạo đức, phẩm hạnh đều không bằng một bữa ăn. Thế nên thương nhân Zanzibar thường chỉ cần cho vài bữa ăn là đã “mua” được người.
Dù sao, thương nhân kiếm tiền chính là nhờ chênh lệch giá. Còn cuối cùng, kẻ trả tiền vẫn là… thuộc địa Đông Phi.