Tình hình biến động trên lục địa châu Âu hiện tại tạm thời vẫn chưa ảnh hưởng đến sự phát triển ổn định của thuộc địa Đông Phi. Còn những rắc rối của Leopold thì vẫn cần một thời gian dài tranh cãi giữa Pháp và Phổ mới có thể ngã ngũ, nên năm nay khó có thể có kết quả.
Tuy nhiên, Ernst hiểu rõ rằng ngôi vị hoàng đế Tây Ban Nha đối với Leopold chẳng qua chỉ là một đóa hoa trong gương, bóng trăng trong nước. Dù sao thì cũng tốt, tương lai Amedeo I – xuất thân từ hoàng tộc Savoia của Ý – sẽ chứng minh ngôi vị này là một củ khoai bỏng tay.
Amedeo I suýt nữa đã đi theo vết xe đổ của Charles I (Anh) và Louis XVI (Pháp), nhưng Amedeo I thì linh hoạt hơn nhiều. Ngay khi đặt chân đến Madrid, ông đã nhận ra mình không đủ khả năng giải quyết vấn đề của Tây Ban Nha.
Năm 1873, Amedeo I chủ động thoái vị, nhẹ nhàng trở về Ý và tiếp tục làm Công tước xứ Aosta – Amedeo.
Ngai vàng Tây Ban Nha nhìn thì có vẻ hào nhoáng, nhưng thực tế chỉ là vẻ bề ngoài. Đằng sau không chỉ liên quan đến các thế lực trong nước Tây Ban Nha, mà còn luôn vướng phải sự can thiệp từ các cường quốc châu Âu.
Nhưng lịch sử cuối cùng cũng chứng minh rằng: nền cộng hòa không thể cứu được Tây Ban Nha. Dù có trải qua hai cuộc thế chiến, loanh quanh một hồi, Tây Ban Nha rồi vẫn quay lại với chế độ quân chủ.
Vì vậy, hoàng tộc Hechingen không phải là không làm gì cả. Khi mọi người đều đang dõi theo tình hình Tây Ban Nha, thì người của hoàng tộc Hechingen đã âm thầm đến Paris để xây dựng quan hệ với vị vua tương lai của Tây Ban Nha – Alfonso XII.
Cho than sưởi ấm giữa trời đông luôn quý giá hơn là thêm hoa trên gấm vóc – điều này càng khiến người ta cảm động. Nhất là với Alfonso XII, hiện đang bị liên lụy bởi mẹ mình – cựu Nữ hoàng Tây Ban Nha (Isabel II).
Tất nhiên, tình cảm mẹ con giữa hai người rất tốt. Alfonso XII chỉ là hận những kẻ phản loạn ở quê nhà Tây Ban Nha mà thôi.
Thật ra, tướng lĩnh cải cách Juan Prim đã từng phát động một cuộc đảo chính thất bại vào năm 1866. Đến năm 1868, ông quay lại và lần này đã thành công.
Ngày 16 tháng 10 năm 1868, tại Paris.
“Thưa Nữ hoàng và Điện hạ, tôi thay mặt hoàng tộc Hechingen bày tỏ sự cảm thông đối với tình cảnh hiện nay của hai người. Thân vương của chúng tôi cũng đã nói rằng những kẻ phản loạn sớm muộn gì cũng sẽ phải trả giá.” – Tom, đại diện của hoàng tộc Hechingen, nói khi đến Paris.
Cựu Nữ hoàng Tây Ban Nha đáp: “Cảm ơn sự ủng hộ của quý quốc. Tôi và Alfonso, thay mặt gia tộc Bourbon và nhân dân Tây Ban Nha, xin ghi nhớ tấm thịnh tình này.”
Tuy gọi là “cựu nữ hoàng”, thực tế Isabel II vẫn chưa từ bỏ quyền kế vị. Điều này cũng đặt nền tảng pháp lý cho sự phục hoàng của Alfonso XII sau này. Chỉ cần những người trung thành và yêu nước Tây Ban Nha phục hồi lực lượng, họ sẽ chào đón hoàng tử trở về, khoác lên mình long bào.
“Đây là chút tâm ý nhỏ của hoàng tộc Hechingen. Hechingen tuy danh nghĩa là một quốc gia, nhưng thực tế đã không còn thực quyền, mong Nữ hoàng và Điện hạ đừng chê cười.” – Tom vừa nói vừa dâng lên một chiếc hộp.
Isabel hiểu rất rõ trong hộp này chắc chắn là tiền bạc. Bà để quản gia nhận lấy rồi dặn: “Alfonso, con phải ghi nhớ, những ngày tháng như thế này mới biết ai là bạn thật sự, ai là kẻ nhân lúc ta lâm nạn mà đâm sau lưng, con hiểu không?”
“Vâng, thưa mẹ. Gia tộc Bourbon chúng ta sẽ không bao giờ quên những người bạn chân thành.” – Alfonso XII còn non trẻ nhưng đáp rất dõng dạc.
Thực ra, hai mẹ con họ cũng không đến nỗi khốn đốn. Dù sao gia tộc Bourbon vẫn có giá trị chính trị rất lớn, là một trong ba lực lượng chủ yếu của phe bảo hoàng Pháp, địa vị vẫn rất đáng kể.
Nhưng dù sao hiện tại cũng đã mất quyền thống trị ở Tây Ban Nha. Những kẻ từng vây quanh nịnh hót giờ đều tan tác, thậm chí có kẻ còn đầu quân cho phe phản loạn.
Trong bối cảnh đó, hoàng tộc Hechingen – một tiểu quốc Đức vốn không có quan hệ mật thiết gì với Tây Ban Nha – vẫn đến thăm hỏi và hỗ trợ, điều này thật sự khiến mẹ con họ cảm động.
“Nhân dân Tây Ban Nha chỉ là nhất thời bị mê hoặc. Nếu không có sự can thiệp của người Mỹ vào các lợi ích hải ngoại, Tây Ban Nha tuyệt đối không suy sụp đến mức này.
Ai cũng biết, kinh tế Tây Ban Nha hiện tại rối ren chủ yếu vì mất quyền lợi ở hải ngoại, còn đám phản loạn chỉ là những kẻ chẳng dám chống Mỹ, nên quay sang gây loạn trong nước.” – Tom không quên dặn dò của hoàng tử: gieo nghi ngờ vào đầu vị vua tương lai.
“Đúng vậy! Những năm qua, người Mỹ cứ nhảy nhót khắp châu Mỹ, luôn nhăm nhe các lãnh thổ hải ngoại của chúng ta, đây mới là căn nguyên khiến kinh tế Tây Ban Nha suy thoái.” – Isabel đồng tình.
Là một người cầm quyền nhưng Isabel lại không có tự nhận thức, có người giúp mình đổ vấy trách nhiệm thì bà dĩ nhiên thuận theo, quy hết tội lỗi cho người Mỹ.
Mỹ cũng chẳng cần thanh minh. Cuba, Philippines, Argentina, Mexico… Những thuộc địa từng thuộc về Tây Ban Nha – trong kiếp trước – đều bị Mỹ cướp đi.
Ngày 10 tháng 10 năm 1868, dưới sự lãnh đạo của một số tinh anh da trắng, Cuba đã nổ ra cuộc khởi nghĩa Yara. Cuba khi đó là vùng cư trú hỗn hợp nhiều sắc tộc: người da đen, da trắng, thậm chí cả người Hoa. Nguồn kinh phí cho cuộc nổi dậy này thì khỏi cần nói cũng biết từ đâu mà ra.
Dù khởi nghĩa lần này chưa thành công, nhưng nó đã để lại mồi lửa cho nền độc lập sau này của Cuba. Còn với mẹ con Isabel, những người vừa mới mất “đại bản doanh”, thì chẳng ai buồn quan tâm đến một hòn đảo xa xôi, dù đó có là thuộc địa quý giá nhất của Tây Ban Nha.
Ernst thì không ngại để họ biết thêm một chút tin tức quốc tế, mở rộng tầm nhìn.
Tom nói tiếp: “Chỉ vài ngày trước, Cuba bùng nổ khởi nghĩa. Lúc đó Tây Ban Nha vừa xảy ra biến loạn, sau đó Cuba lập tức nổi dậy, khó mà không khiến người ta liên tưởng hai bên có liên quan. Khoảng cách chưa tới mười ngày, lại khéo trùng hợp như vậy…”
“Hừ! Một lũ tiểu nhân nhảy nhót thôi! Rõ ràng mục tiêu của chúng là tiêu diệt Tây Ban Nha! Tôi sớm đã nghi ngờ chúng cấu kết với kẻ thù của chúng ta – là người Mỹ!” – Isabel nghiến răng tức giận.
Alfonso còn trẻ càng phẫn nộ hơn. Tốt rồi, bây giờ đã có “bằng chứng” xác thực: kẻ đứng sau loạn quân chắc chắn là người Mỹ.
Thuyết âm mưu luôn dễ khiến người ta tin tưởng. Mẹ con Isabel căn bản chẳng cần chứng cứ, chỉ cần nghi ngờ là đủ. Mà nước Mỹ – quốc gia cộng hòa – đương nhiên là nghi phạm hàng đầu.
Ngoài xung đột về lợi ích, thân phận cộng hòa của Mỹ khiến nó trở thành "cái gai" trong mắt các vương triều châu Âu.
Nếu kiếp trước Mỹ tiếp nhận quyền bá chủ thế giới từ tay Anh, thì sự trỗi dậy của nước Mỹ cũng là nhờ giẫm lên xác các thuộc địa Tây Ban Nha.
Dù rằng bản thân chế độ thực dân của Tây Ban Nha có nhiều vấn đề, nhưng Mỹ ở bên cứ châm ngòi, giở thủ đoạn càng khiến người ta ghê tởm.
Từ khi Napoleon III phục hoàng ở Pháp, Mỹ trở thành sào huyệt của lực lượng phản động (chỉ phe cộng hòa) trong mắt các quân chủ châu Âu.
Tổ chức phản chính phủ của các nước đều có thể tìm chỗ dung thân ở Mỹ. Ví dụ như người từng bán bằng sáng chế điện thoại cho tài phiệt Hechingen – Antonio Meucci – chính là loại người đó. Một trong “ba vị anh hùng thống nhất nước Ý” – Giuseppe Garibaldi – từng sống nhờ tại nhà của Meucci suốt ba năm.
Chưa cần nói xa, ngay cả cha vợ của Ernst – Maximilian I – cũng là một trong những nạn nhân. Ai cũng biết người đứng sau hậu thuẫn cho quân nổi dậy Mexico chính là Mỹ.
Hồi đó, quân cộng hòa Mexico đã bị Napoleon III dồn đến tận vùng núi. Nhưng sau khi Mỹ kết thúc Nội chiến, họ lập tức viện trợ cho quân phản loạn Mexico, cuối cùng lật đổ được Maximilian I.
(Hết chương)
Chú thích: [1] Alfonso XII: Vua tương lai của Tây Ban Nha, lúc này mới 11 tuổi đang lưu vong cùng mẹ. Ông còn được biết đến với biệt danh "El Pacificador" (Người tạo hòa bình).
------oOo------