Dân số thuộc địa Đông Phi sau nhiều biến động đã chạm mốc 1,75 triệu người. Ngoài lượng dân nhập cư mới, còn có làn sóng bùng nổ trẻ sơ sinh đầu tiên tại Đông Phi.
Hai năm qua với môi trường tương đối ổn định, cùng chính sách ưu tiên nữ giới nhập cư của Đông Phi, vấn đề hôn nhân của dân di cư dần được cải thiện. Các gia đình mới thành lập chiếm đa số trong cơ cấu dân cư.
Đã lập gia đình thì tất nhiên phải đẻ con nối dõi. Đông Phi liên tục hưởng lợi từ chiến tranh, lãnh thổ mở rộng, diện tích canh tác tăng đều tạo động lực cho việc sinh đẻ.
Ở thời đại này, chi phí nuôi dạy trẻ cực thấp, cộng thêm quan niệm truyền thống "đẻ càng nhiều càng tốt" của dân di cư, họ gần như sinh đẻ không kiểm soát.
Những người nhập cư này chỉ cần làm việc chăm chỉ hơn một chút là có thể nuôi thêm miệng ăn.
Dân thuộc địa Đông Phi hầu như không có ý thức khủng hoảng, chủ yếu do vùng đất quá rộng lớn, điều kiện tự nhiên quá tốt, khác xa môi trường cạnh tranh khốc liệt ở lục địa Á-Âu.
Ngoài dân nhập cư, lao động bản địa không được tính vào thống kê dân số Đông Phi. Năm nay, ước tính có khoảng 1,3 triệu thổ dân.
Lục địa Phi không thiếu thổ dân. Dù bị kiểm soát chặt, họ vừa phải đảm nhận công việc nặng nhọc, vừa bị thuộc địa Đông Phi bán đi nên hao hụt rất lớn.
Nhưng mỗi khi mở rộng về phía Tây, Đông Phi lại bắt thêm một lô mới để bù đắp lao động thiếu hụt - một nền kinh tế nô lệ điển hình với chu trình khép kín "có vào có ra".
Dưới nền kinh tế nô lệ, cơ sở hạ tầng Đông Phi được xây dựng với tốc độ chóng mặt. Các thành phố và làng mạc đều được kết nối bằng đường sá.
Việc sử dụng nô lệ rộng rãi giúp người Đông Phi dễ dàng khai khẩn gấp nhiều lần đất đai, thay thế gia súc và máy móc, duy trì quy mô nông nghiệp.
Lương thực thu hoạch được chia ba phần: một cho dân nhập cư, một cho nô lệ, một xuất khẩu.
Phần dân nhập cư chiếm tỷ lệ lớn nhất, không phải do họ ăn nhiều mà vì những người mới đến đều trắng tay, chưa thể sản xuất ngay nên phải ứng trước lương thực.
Các hoạt động như khai hoang, xây dựng làng mạc hay viễn chinh đều cần lượng lương thực khổng lồ.
Khẩu phần nô lệ cũng không nhỏ do số lượng đông đảo. Để giải quyết vấn đề này, Đông Phi trồng lượng lớn ngô và sắn - những loại năng suất cao, dễ chăm sóc, gần như tự mọc.
Lương thực xuất khẩu là nguồn thu chính nhưng mang tính chu kỳ. Dù diện tích canh tác lớn, lượng xuất khẩu hiện không nhiều do dòng người nhập cư liên tục.
Lương thực xuất khẩu phải chất lượng cao để cạnh tranh ở châu Âu. Nhờ chi phí nhân công và đất đai thấp, lợi nhuận rất khả quan.
So với cây lương thực, cây công nghiệp sinh lời hơn nhiều nhưng Đông Phi tồn tại chưa đủ lâu để thu hoạch.
Ví dụ: vườn cà phê Kenya cần 3-5 năm mới cho thu hoạch, đồn điền cao su ven Hồ Lớn cần 6-8 năm, hay cây canhkina cũng cần thời gian. Chỉ có sisal, đinh hương, lạc là đã vào giai đoạn sản xuất ổn định.
Nửa cuối năm, Đông Phi mở rộng không đáng kể, chủ yếu đuổi thổ dân ở phía Tây dãy Mitumba.
Khu vực này là vùng đệm giữa cao nguyên Đông Phi và lưu vực Congo, địa hình hiểm trở. Việc chiếm đóng chỉ là sự tiếp nối chiến dịch Tây Bắc trước đó nên chính quyền không mấy quan tâm.
Toàn bộ dãy Mitumba phủ rừng nguyên sinh, thưa dân. Phía Tây là khí hậu rừng mưa nhiệt đới. Thuộc địa Đông Phi dễ dàng chiếm vùng đất rộng 200.000 km² này - tương đương hai tỉnh Bắc Kivu và Nam Kivu của Congo sau này.
Ở thời điểm này, Vương quốc Congo vẫn đang vật lộn bên bờ Đại Tây Dương. Thế lực mạnh nhất quanh Mitumba là "Tám nước" đã bị Đông Phi tiêu diệt hoặc xua đuổi.
Phía Tây Mitumba là rừng mưa rậm rạp, ít khu vực sinh sống được. Lưu vực Congo không có quốc gia nào, chỉ toàn bộ tộc bị gọi chung là "các bộ lạc Bantu Tây Bắc" - đối trọng với nhóm Đông Bantu đã bị tiêu diệt.
Sau này (trong nguyên lịch sử), khi Bỉ xâm lược, khu vực này mới hình thành nên Congo thuộc Bỉ. Nhưng giờ dãy Mitumba đã thuộc Đông Phi, người Bỉ không còn đất dụng võ.
Năm sau, theo kế hoạch, Đông Phi sẽ thôn tính cao nguyên Katanga (Nam Congo) và Đông Zambia. Tương lai, Bỉ chỉ còn lại lưu vực Congo thực sự - toàn rừng mưa.
Những vùng cao nguyên và núi tương đối dễ sống đều đã bị Đông Phi chiếm giữ hoặc đánh dấu. Sự xuất hiện của thuộc địa này chắc chắn ảnh hưởng đến cuộc chia cắt châu Phi của cường quốc.
Hiện tại, Ernst không mặn mà với vùng lõi lưu vực Congo - "vùng cấm địa" rừng mưa nhiệt đới danh bất hư truyền.
Cả năm 1868, lãnh thổ Đông Phi chỉ mở rộng khoảng 500.000-600.000 km², chủ yếu ở Tây Bắc. Trong đó, "Tám nước" tốn nhiều công sức nhất nhưng sau khi bị tiêu diệt, Đông Phi đã thiết lập quyền kiểm soát vững chắc.
Ngoài Ai Cập ở Bắc Phi, không thế lực nào đe dọa được khu vực này.
Bên cạnh dân số và lãnh thổ, Đông Phi cũng xây dựng hệ thống thủ công nghiệp sơ khai phục vụ nhu cầu dân nhập cư: muối, lò gạch, lò vôi, các xưởng thủ công...
Đây đều là ngành nghề tiếp quản từ vùng đất phía Đông của Vương quốc Hồi giáo Zanzibar cũ, dần mở rộng vào nội địa.
Đặc điểm là công nghệ thấp, sản lượng thấp nhưng thuộc địa Đông Phi như tờ giấy trắng - phải có rồi mới phát triển được.
Công nghệ thấp đồng nghĩa dễ tiếp thu, phù hợp với môi trường mù chữ phổ biến. Nếu đưa máy móc hiện đại vào, trình độ dân thuộc địa không đủ để bảo trì.
Nhóm có học vấn cao nhất ở Đông Phi chỉ tương đương tiểu học, lại phân tán khắp các cơ quan chính quyền để vận hành bộ máy.
Dù vậy, năm nay Đông Phi cũng xây dựng vài nhà máy hiện đại quy mô nhỏ. Toàn bộ máy móc, linh kiện nhập khẩu, cần chuyên gia châu Âu giám sát từ khâu xây dựng đến vận hành.
Vấn đề lớn nhất là thiếu chuỗi cung ứng hoàn chỉnh. Ở châu Âu, thiếu gì có thể nhập từ nước láng giềng, nên ngay cả nước nhỏ cũng có thể công nghiệp hóa nhờ hệ thống sẵn có.
Còn Đông Phi, láng giềng duy nhất là Ai Cập - mới chập chững công nghiệp hóa đã bị Anh, Pháp và Ottoman chặn đứng.
Thuộc địa Mozambique của Bồ Đào Nha hoàn toàn là nơi bóc lột. Ngay cả Bồ Đào Nha cũng không mạnh về công nghiệp, nói gì đến thuộc địa. Vì vậy, điều kiện công nghiệp hóa của Đông Phi vẫn chưa chín muồi.
Dĩ nhiên, nếu đủ tiền thì Nam Cực cũng xây được nhà chọc trời. Nhưng Tập đoàn Hechingen không phải tổ chức từ thiện. Chính việc Ernst liên tục bơm máu tài chính mới tạo nên quy mô dân số và lãnh thổ hiện tại.
Trên thế giới khó tìm được trường hợp thứ hai. Nếu Công ty Đông Ấn khai thác Ấn Độ mà lỗ liên tục, chính phủ Anh đã bỏ từ lâu.
Lý do các đế quốc không mở rộng bừa bãi chính là vấn đề chi phí - vận hành thuộc địa cũng tốn kém.
Điều Đông Phi cần lo nhất là sau bao nỗ lực phát triển lại "trao gửi ngọc cho người". Vì vậy, dân số và quân đội là hai yếu tố cốt lõi.
Có người mới có binh lính và ngân sách quân sự. Có quân đội mạnh, trang bị hiện đại mới bảo vệ được thuộc địa.
Với những kẻ thực dân như Ernst, con người cũng là tài sản. Chất lượng không đạt thì số lượng đông cũng đủ tạo ra của cải cho Hoàng tộc Hechingen.
Như Ấn Độ sau này, dù đời sống người dân khổ cực, các doanh nghiệp vẫn có thể phát triển nhờ thị trường và nhân khẩu khổng lồ.
(Hết chương)
Chú thích: [1] Dãy Mitumba: Dãy núi ở Trung Phi, nay thuộc CHDC Congo, tạo thành rìa phía Tây của Thung lũng Tách giãn Albertine.
------oOo------