Cùng lúc tiếp quản đảo Mayotte, Vương quốc Đông Phi cũng dòm ngó đến các đảo chính gần đó gồm Đại Comoros, Anjouan, Mohéli và nhiều đảo nhỏ khác. Trong số ấy, Quốc vương Anjouan vốn được xem như người cai trị trên danh nghĩa của quần đảo Comoros. Vương quốc Đông Phi dự tính sẽ “đàm phán” với Quốc vương Anjouan, đưa một bộ phận thần dân của ông sang Vương quốc Zanzibar. Trong tương lai, toàn bộ quần đảo Comoros sẽ trở thành “Comoros thuộc Đông Phi”.
Hiện tại, việc ấy chưa thể tiến hành ngay, bởi công cuộc di dân còn chưa hoàn tất, nên trước mắt Hải quân Đông Phi chỉ cần ổn định Quốc vương Anjouan.
Khi tình hình trên đảo Mayotte đã yên ổn, Hải quân Đông Phi liền tiến về phía Anjouan. Dưới sự “viếng thăm thân thiện” của Đại công tước Ferdinand và Hải quân Đông Phi, Quốc vương Anjouan lập tức ký hiệp ước, chính thức biến quần đảo Comoros thành lãnh thổ bảo hộ của Đông Phi.
Kỳ thực, vào thời điểm ấy, Anjouan đã mất quyền kiểm soát ba đảo còn lại. Nhưng Đông Phi chỉ cần cái cớ chính danh, mượn danh nghĩa Quốc vương Anjouan để đàn áp dân bản địa trên đảo Đại Comoros và Mohéli.
Quần đảo Comoros là nơi thế lực hỗn tạp. Ngoài Mayotte đã hoàn toàn nằm trong tay Đông Phi, ba đảo kia dân cư gồm người Phi da đen, người Ả Rập, người Mã Lai, trong đó tầng lớp thống trị là người Ả Rập, văn hóa Ả Rập chiếm ưu thế.
May thay, do khí hậu rừng mưa nhiệt đới, dân số Comoros không nhiều, nên việc khống chế của Đông Phi không mấy khó khăn.
Ngày 18 tháng 1 năm 1871, Wilhelm I tại Sảnh Gương của Cung điện Versailles ở Paris long trọng tuyên bố đăng quang Hoàng đế Đế quốc Đức.
Ngay vào cuối năm ngoái, nhờ thế thắng của cuộc Chiến tranh Pháp–Phổ, bốn tiểu bang Nam Đức đã chính thức gia nhập Liên bang Đức, hoàn tất sự nghiệp thống nhất lãnh thổ Đức.
Khu vực Nam Đức vốn từ lâu là một trong những vùng kinh tế phồn thịnh nhất. Do đó, khi sát nhập Nam Đức, sức mạnh của nước Đức được nhân lên gấp bội; riêng Vương quốc Bayern đã sở hữu thực lực vượt trội so với đa phần các quốc gia châu Âu khác.
Với lời tuyên bố của Wilhelm I tại Versailles, một Đế quốc Đức thống nhất lần đầu tiên đã xuất hiện trong dòng chảy lịch sử nhân loại.
Tân Đế quốc Đức sở hữu hơn 40 triệu thần dân (lịch sử thực tế là 41 triệu), lãnh thổ rộng 610.000 km², trong thoáng chốc vượt qua Pháp để trở thành cường quốc mạnh nhất châu Âu lục địa.
Đức nắm trong tay lực lượng lục quân hùng mạnh nhất châu Âu cùng với lãnh thổ bao la, thực lực vượt xa so với Phổ hay Áo trước đây.
Khi nghe tin Đế quốc Đức ra đời, Hoàng đế Franz của Áo–Hung dâng đầy nỗi niềm chua chát: sự việc ấy đồng nghĩa Áo hoàn toàn mất đi ảnh hưởng tại lãnh thổ Đức. Đế quốc Áo–Hung buộc phải tìm con đường khác. Trái lại, phía Hung lại tỏ ra mừng rỡ: nước Đức thống nhất, Áo không còn có thể lấy cớ lãnh thổ Đức để áp chế Hungary nữa.
Vương quốc Đông Phi cũng gửi lời chúc mừng khi Đế quốc Đức thành lập, song chỉ dừng lại ở lễ nghi. Nếu lễ đăng quang diễn ra tại Berlin, Ernst hẳn sẽ thân chinh dự lễ. Nhưng ở Paris thì tuyệt đối không thể, tránh để Đông Phi chuốc thêm thù oán.
Vào thời điểm nước Đức thống nhất, dân số Đông Phi cũng đã đạt 4,7 triệu người. Trong đó, riêng người gốc Đức từ Đức và Áo–Hung (kể cả sinh ra tại bản địa) đã hơn 1,8 triệu. Cộng thêm những cộng đồng Slav đã được Đức hóa (Croatia, Slovenia) cùng các cuộc hôn phối liên dân tộc (với người Paraguay, người Hoa, người Đức v.v.), tổng số người thuộc khối dân tộc Đức rộng nghĩa lên đến 4,45 triệu. Số còn lại, hơn 200.000 người, là các cộng đồng nhập cư mới như Ý, Nga, Hoa…
Đông Phi, với cơ cấu dân số ấy, không nghi ngờ gì chính là một quốc gia Đức, chỉ đứng sau Đức và Đế quốc Áo–Hung, vượt xa Luxembourg hay Liechtenstein.
Về lãnh thổ, Vương quốc Đông Phi (tính cả các vùng đất thuộc Hoàng thất tại Alaska) là quốc gia rộng lớn thứ năm thế giới, chỉ sau Anh quốc (với Canada, Úc…), Nga, Mỹ và các thuộc địa Viễn Đông.
Đông Phi chưa bao giờ công bố diện tích thực sự của mình. Dù đã có va chạm với các thế lực thuộc địa khác, song vào thời ấy, khái niệm “lãnh thổ quốc gia” và “thuộc địa” chưa thể tách bạch, nên phần lớn các quốc gia khác chỉ hình dung Đông Phi quanh vùng duyên hải Đông Phi – tức lãnh thổ Zanzibar cũ trên đất liền, chưa kể Mozambique và một phần người Áo.
Trong khi Mozambique đã trực tiếp cảm nhận sức ép từ Đông Phi, thì người Áo ít ra cũng hiểu Đông Phi đã chinh phục trọn vùng Kenya và Tanganyika, nếu không thì làm sao có thể thu hút đầu tư mạnh mẽ tại Kenya được.
Với lãnh thổ rộng lớn và hàng triệu dân cư, nghịch lý thay, Vương quốc Đông Phi lúc này lại càng cần giữ thái độ thận trọng. Chỉ khi nắm trọn Zimbabwe và Zambia, Đông Phi mới có thể xuất hiện chính danh trên trường quốc tế.
Bởi vậy, từ năm 1871 trở đi, Đông Phi bắt đầu từ bỏ con đường bành trướng quá khích. Ngoại trừ Mayotte, họ không còn kế hoạch mở rộng lãnh thổ.
Trên biên giới, Đông Phi chọn con đường khiêm tốn, tích cực phát triển quan hệ thương mại với người Boer và Bồ Đào Nha, tránh mọi xung đột vũ lực.
Cùng lúc, Ernst bắt đầu xúc tiến việc chuyển một phần tài sản của Tập đoàn Hechingen về chính quốc Đông Phi. Đến nay, tập đoàn này đã trở thành một trong những tài phiệt hùng mạnh bậc nhất thế giới: có cả Vương quốc Đông Phi làm “hậu viên”, nắm ảnh hưởng tại Đức và Áo–Hung, đồng thời cắm rễ tại nhiều nơi khác ở châu Âu. Quy mô ấy khiến Hechingen thực sự “giàu ngang quốc gia”. Chỉ cần rơi vãi đôi chút lợi ích, cũng đủ cho Đông Phi tiêu hóa trong thời gian dài.
Trung tâm của Tập đoàn Hechingen là Ngân hàng Hechingen. Ngoài việc nắm trong tay các doanh nghiệp thuộc sở hữu tập đoàn, ngân hàng này dưới sự chỉ đạo của Ernst còn thâu tóm cổ phần ở nhiều công ty mới nổi tại Đức và Áo–Hung, tập trung vào các ngành điện lực, quân giới, thực phẩm, cơ khí.
Một ví dụ tiêu biểu là xưởng Škoda do Bá tước Škoda lập ra ở Bohemia (1869). Khi ấy, Ngân hàng Hechingen đã nắm giữ 17% cổ phần, dù xưởng chỉ mới là một nhà máy cơ khí nhỏ. Sự đầu tư này khiến chính Bá tước Škoda bấy giờ cũng khó hiểu.
Trong lĩnh vực điện lực châu Âu, hầu hết các công ty mới thành lập đều có bóng dáng đầu tư từ Ngân hàng Hechingen. Ngành thực phẩm thì tập đoàn dùng thế độc quyền để chi phối: nông sản nhiệt đới từ Đông Phi chủ yếu xuất sang Đông Âu và Trung Âu, kéo theo sự ra đời của nhiều xưởng chế biến thực phẩm tại đó – phía sau đều có bàn tay Hohenzollern. Thực tế, vị trí địa lý của Đông Phi thuận lợi hơn hẳn Đông Nam Á hay châu Mỹ. Khi ngành cà phê, trà, cao su tại Đông Phi chín muồi, thị phần quốc tế sẽ bị chiếm đoạt thêm nữa.
Ngân hàng Hechingen còn rót vốn vào ngành dầu mỏ tại miền Đông Đế quốc Áo–Hung và Romania. Đặc biệt tại Romania, dưới triều Carol I, chính quyền mở cửa hết mức, gần như trao quyền độc chiếm thị trường dầu mỏ vào tay Hechingen.
Trong khi Đông Phi thiên về chính sách xuất khẩu “bán rẻ, số lượng lớn”, tập trung nông nghiệp; thì Tập đoàn Hechingen lại thống lĩnh các lĩnh vực tài chính, công nghiệp nhẹ, công nghệ cao – lợi nhuận cao, quy mô khổng lồ.
Điều Đông Phi còn thiếu trầm trọng là công nghiệp nặng. Cả Đông Phi lẫn Tập đoàn Hechingen đều chưa có nhiều kinh nghiệm trong mảng này. Không có công nghiệp nặng thì không thể sản xuất ra vật tư nền tảng của công nghiệp, cũng không thể để Tập đoàn Hechingen thoát ly khỏi châu Âu. Khi ấy, Đông Phi và Hechingen chưa thể hợp nhất thành một siêu thực thể chính trị – kinh tế.
Bởi vậy, phát triển công nghiệp nặng chính là mục tiêu hàng đầu hiện nay của Vương quốc Đông Phi.
(Hết chương)
Chú thích: [1] Phòng Gương (Versailles): Nơi ký kết Hiệp ước Versailles 1919 kết thúc Thế chiến I, cũng là nơi Đức trả đũa Pháp năm 1871. [2] Škoda: Tiền thân là nhà máy cơ khí của Bá tước Škoda, sau trở thành tập đoàn công nghiệp quốc phòng nổi tiếng. [3] Carol I: Vua Romania (1866-1914), người đưa Romania thoát khỏi ảnh hưởng Ottoman.
------oOo------