Bàn bạc xong việc đặt tên, chuyện xây dựng Học viện Hải quân Ferdinand cũng coi như đã được đóng đinh, tương tự như Học viện Quân sự Hechingen, Ernst kiêm nhiệm danh hiệu Hiệu trưởng danh dự.
Thân vương Konstantin nói: “Ernst, con có phải nghiện làm Hiệu trưởng rồi không?”
Ernst cười: “Phụ thân, người hiểu lầm rồi. Con đây tuy về mặt tố chất quân sự cá nhân thì không xuất sắc, nhưng về xây dựng tư tưởng trong trường học mới là sở trường của con.”
Ernst tuy không trực tiếp tham gia công tác giảng dạy, song tự nhận mình có chỗ độc đáo trong phương diện tư tưởng – chính trị, dù sao từ nhỏ đã được giáo dục theo đường lối đó.
Việc phát triển hải quân là nhu cầu tất yếu của Vương quốc Đông Phi hiện nay. Hải quân Đông Phi chính là tử huyệt chí mạng. Điều đó khiến khả năng Đông Phi phải đối diện uy hiếp từ biển cao hơn nhiều so với đất liền.
Ngược lại, áp lực quốc phòng trên bộ lại khá nhỏ, vì lục quân Đông Phi hiện đã trở thành lực lượng số một ở châu Phi. Không khách khí mà nói, nếu không phải huy động toàn lực một quốc gia thì hiện tại không có nước nào trong nội lục Phi châu có thể đánh bại Đông Phi.
Nhưng ở mặt hải quân, điểm yếu của ta lại cực kỳ rõ rệt: nhân lực thiếu, số lượng chiến hạm thiếu. Chỉ cần có nước nào đó phái một hạm đội là đủ để nhấn chìm toàn bộ hải quân Đông Phi. Vậy nên xây dựng một hải quân đủ sức bảo vệ vùng biển cận duyên chính là mục tiêu số một hiện tại. – Ernst nói thẳng.
Phát triển hải quân Đông Phi thực sự cấp bách, nhưng Ernst cũng không định phóng đại quá mức quy mô. Như Ferdinand đại công từng nói, cái Đông Phi thiếu là hệ thống, chứ không phải chỉ riêng “tàu to súng lớn”. Mua bao nhiêu chiến hạm đi nữa mà không có hệ thống để vận hành thì cũng chỉ là đống sắt vụn.
Konstantin gật gù: “Xây dựng hải quân là việc trường kỳ, không thể một sớm một chiều hoàn thành. Mạnh như Đức, nếu không mấy chục năm phát triển, thì cũng chẳng thể nói dựng hải quân cái là thành công ngay. Chúng ta ở Đông Phi, chỉ cần từng bước vững chắc, chăm lo căn cơ châu Phi là đủ.”
Quốc lực Đức vượt xa Đông Phi, không chỉ ở diện tích, mà hầu hết mọi chỉ số đều cao hơn. Thế nhưng Konstantin lúc này đã rất hài lòng, ít nhất Đông Phi cũng có thể đem ra so sánh với Đức – điều mà trước kia, thời Thân vương quốc Hechingen, hoàn toàn không dám nghĩ.
Tuy vậy, Đông Phi tuyệt đối chưa thể coi là yên ổn. Trước hết, Đông Phi trên thực tế đã trở thành quốc gia xuất khẩu nô lệ lớn nhất thế giới, điều này đi ngược hẳn với phong trào bãi nô ngày càng mạnh mẽ trên trường quốc tế.
Trong mắt Ernst, cái gọi là “bãi nô” chẳng qua chỉ là nước mắt cá sấu của châu Âu, giả dối đến cực điểm, chỉ để lừa gạt mấy kẻ “thánh mẫu” trong xã hội.
Nguyên nhân thực sự là khi công nghiệp Anh quốc phát triển, buôn bán nô lệ không còn lợi nhuận. Trước kia, công nghiệp Anh hoàn toàn phụ thuộc buôn nô, hàng hóa công nghiệp chỉ có thể nhờ tàu buôn nô mới xuất đi khắp nơi.
Nay năng suất tăng, chất lượng sản phẩm nâng cao, người Anh chẳng cần dùng nô lệ để ép tiêu thụ hàng nữa, liền đi theo con đường “tự do mậu dịch”. Nhưng một khi gặp trở ngại, họ lập tức quay lại lối cũ – Chiến tranh Nha phiến chính là ví dụ điển hình.
Trước kia, ở thế giới tiền kiếp, Âu Mỹ cũng thường “dồn chó vào chân tường”: lúc kiếm được tiền thì rao giảng tự do thương mại, lúc người khác kiếm tiền thì cáo buộc “bán phá giá”, tiến hành điều tra chống phá giá.
Thị trường vốn phải do bên kia tự nguyện mở cửa mới vào được. Nếu không thì phải cưỡng bức mở cửa như thời kỳ thực dân. Nếu không, làm sao Âu Mỹ có thể gặt hái “rau hẹ” toàn thế giới để hưởng thụ cái gọi là nhân quyền cao quý? Đến thời Ernst xuyên qua, Âu châu đã lại đi theo vết xe đổ, “rau hẹ” ngày càng khó cắt, bèn nghĩ cách xuống tay trước vào quỹ lương hưu và phúc lợi dân mình.
Còn Mỹ thì luôn đi theo con đường “nhập cư ngoại lai ép dân bản địa”: dân da đỏ cổ xưa giờ đã chịu thiệt, người Latin làm việc cật lực đến tóe lửa, tầng lớp lao động da trắng truyền thống thì khốn khổ, các vùng công nghiệp cũ và nông thôn cổ xưa sa sút thảm hại.
Buôn bán nô lệ cũng như vậy. Lợi nhuận lớn đã bị kẻ đến sau chiếm mất, cho nên Anh – Pháp mới “thăng hoa đạo đức”, từ lái buôn nô lệ biến thành “quý ngài cao thượng chống buôn nô”.
Mà Đông Phi lại chính là kẻ đến sau. Hiện nay, khi kinh tế thế giới còn đang phồn vinh, Anh – Pháp chưa tính toán với Đông Phi, nhưng chỉ cần kinh tế suy thoái, tất họ sẽ lại quay về con đường bành trướng.
Bắc Mỹ và Nam Mỹ – hai khu vực thuộc địa truyền thống – đã dần thoát khỏi vòng kiểm soát của liệt cường, vậy nên châu Phi tất nhiên sẽ trở thành mục tiêu kế tiếp.
Trong dòng ngầm đang manh nha đó, Đông Phi muốn yên thân, tất phải phát triển hải quân, chặn giặc ngoài cửa.
Ernst tiếp lời: “Việc mua tàu chiến, xin nhờ nhạc phụ quan tâm nhiều hơn. Ngoài ra, mấy loại chiến hạm nhỏ thì tạm chưa cần tính.”
Ferdinand đại công đáp: “Đương nhiên, đó là trách nhiệm của ta. Nhưng các loại tàu nhỏ cũng là bộ phận không thể thiếu trong hải quân. Con có dự tính gì về phương diện này không?”
Ernst giải thích: “Những chiến hạm cỡ nhỏ, con dự định giao cho bốn xưởng đóng tàu trực thuộc nhà xưởng tập đoàn Hechingen thiết kế chế tạo, để tích lũy nhân lực và kỹ thuật cho công cuộc đóng tàu nội địa Đông Phi.”
Chiến hạm nhỏ do xưởng của nhà máy Hechingen chế tạo là hoàn toàn khả thi. Thậm chí nếu vốn đủ, nhận đóng cả tàu cỡ lớn cũng không phải không thể.
Nhưng Ernst không dám mạo hiểm quá. Tại châu Âu, tư nhân chế tạo tàu quân sự rất phổ biến, ngay cả Hải quân Hoàng gia Anh cũng đi theo con đường quân – dân kết hợp.
Song các xưởng đóng tàu của xưởng đóng tàu Hechingen lại chưa có kinh nghiệm đóng chiến hạm, nhất là những kỹ thuật tiên tiến thì càng thiếu thốn.
Về phần các chiến thuyền gỗ từng được Đông Phi tự chế tạo trước đây, kỹ thuật chủ yếu đến từ xưởng đóng tàu Venice, vốn có truyền thống từ thời hải quân thuyền buồm. Ba xưởng còn lại chỉ sao chép kỹ thuật Venice mà thôi.
Nhưng khi động cơ hơi nước và thiết giáp hạm ra đời, xưởng Venice đã sa sút. Chỉ nhờ Ernst rót vốn mà họ mới bắt đầu lại nghiên cứu về động lực hơi nước.
Ernst nói tiếp: “Lần này, xưởng đóng tàu Bagamoyo sẽ phải gánh phần lớn công việc. Kỹ thuật có thể nhập nhiều từ châu Âu, còn chủ yếu là phải tăng cường đào tạo công nhân.”
Công nhân của xưởng Bagamoyo phần nhiều đến từ di dân Đức và Ý, chỉ có lác đác vài người từ Viễn Đông.
Đó cũng là đặc điểm riêng của Đông Phi: những xưởng cần chút kỹ thuật thì đa phần công nhân là người gốc Đức.
Di dân Đức vốn được học hành căn bản, thích hợp làm công nhân công nghiệp. Ngược lại, nhiều người từ Viễn Đông thậm chí còn chưa phân biệt được trái phải, đếm chưa quá năm, cho họ vào xưởng đúng là khó.
Dĩ nhiên, tình hình đang dần thay đổi. Lứa học sinh tiểu học đầu tiên của Đông Phi đã tốt nghiệp năm ngoái, cũng là lý do Đông Phi có thể đưa du học sinh sang Đức và Áo – Hung.
Điểm này, Đông Phi có chút ưu thế hơn Viễn Đông: không vướng trở ngại ngôn ngữ. Năm nay, đợt du học sinh chính thức đầu tiên của Viễn Đông cũng lên đường sang Đức, Mỹ, tổng cộng 50 người, trong đó 30 là do sứ quán Đông Phi tiến cử sang Đức và Áo – Hung.
Lý do của sứ quán Đông Phi cũng rất thuyết phục: ngươi đã là quốc gia quân chủ phong kiến, sao lại không đưa học sinh sang các nước quân chủ như Đức – Áo, mà lại chọn Mỹ? Thế thì Đại Thanh diệt vong cũng đáng.
Đợt du học sinh đầu tiên của Đông Phi có 500 người – số lượng không nhiều, bởi thời thuộc địa ban sơ, ít người chịu đem cả nhà sang. Thêm nữa, Đông Phi vốn có cơ sở giáo dục ngay tại Đức: các trường của Thân vương quốc Hechingen mỗi năm duy trì hơn hai vạn học sinh (bao gồm cả trẻ mồ côi châu Âu và Đức).