Đối với người Áo mà nói, toàn bộ năm 1872 là một năm khó quên. Trong năm đó, giống như các quốc gia khác trên thế giới, thị trường Áo phồn vinh chưa từng có. Thêm vào đó, việc Áo đánh bại Ý, đoạt lại Venezia, khiến niềm vui của dân chúng lại càng dâng cao.
Song hành với thắng lợi về kinh tế và quân sự, niềm tin của người dân Áo được nâng cao tột độ. Nền kinh tế phát nhiệt, cơ hội việc làm tăng mạnh, lại thêm chiến tranh nổ ra, việc tuyển quân được triển khai, trong bối cảnh ấy, người Áo không còn mấy mặn mà với chuyện di dân ra hải ngoại.
Điều này thể hiện rõ rệt: trong năm 1872, tổng số người Áo di cư đến Đông Phi sụt giảm thê thảm, chỉ còn chưa đến năm nghìn. Hơn nữa, chính phủ Áo có chủ ý đưa dân Đức đến Venezia, nên luồng di dân chuyển hướng, tập trung vào các thành phố trong nước và Venezia.
Từ sau thất bại trong chiến tranh Áo–Phổ năm 1866, bị Phổ gạt khỏi khu vực Đức, đó là lần thất bại lớn nhất của người Áo.
Nhưng kỳ lạ thay, kinh tế Áo lại không hề suy sụp. Dù công nghiệp hóa của Áo chậm hơn Pháp và Phổ, nhưng vẫn phát triển thần tốc.
Việc xây dựng đường sắt chính là minh chứng trực tiếp: từ năm 1859 đến 1872, toàn thể Đế quốc Áo–Hung đã xây dựng hơn bảy nghìn cây số đường sắt. Con số này tuy kém các cường quốc khác, nhưng cũng vô cùng kinh ngạc. Thời kỳ này, đường sắt Áo chủ yếu được tư nhân hóa.
Nhưng bước ngoặt lại đến cuối năm 1872: 76 công ty đường sắt trong Đế quốc Áo–Hung tuyên bố vỡ nợ. Trong 384 công ty đường sắt niêm yết, có tới 279 công ty không trả nổi cổ tức.
Thế nhưng, cổ phiếu đường sắt vẫn sốt giá, thị trường toàn lời tán dương, tạo cho những tay đầu cơ ảo tưởng rằng không tranh mua thì chẳng còn phần.
Đến tháng 2, tin dữ liên tiếp ập đến.
Ngày 4 tháng 2, Công ty Đường sắt Barclay vỡ nợ. Ngày 5 tháng 2, Công ty Đường sắt Cook vỡ nợ. Ngày 6 tháng 2, Ngân hàng Kenyonks vỡ nợ. Ngày 7 tháng 2, toàn bộ cổ phiếu đường sắt đồng loạt lao dốc. Dưới ánh mắt kinh hoàng của đám đầu cơ, giá cổ phiếu trong Sở Giao dịch Vienna như dòng thác đổ, lao xuống không phanh. Đêm đó, không ít kẻ sa cơ lên thẳng sân thượng tìm đường kết liễu.
Trong cung đình Vienna.
“Bệ hạ, theo thống kê, chỉ trong một ngày, Sở Giao dịch Vienna đã bốc hơi hơn bốn trăm triệu Gulden, vô số nhà đầu cơ qua một đêm trở nên trắng tay. Tính sơ bộ, hôm qua đã có mười bảy người tự sát. Điều đáng sợ hơn là hệ thống tín dụng tê liệt toàn diện, giao dịch chứng khoán đình trệ, mùa đông kinh tế của Áo đã đến.”
Franz lặng mặt nghe Bộ trưởng Tài chính báo cáo. Là một Hoàng đế ngày càng lớn tuổi, Franz trở nên trầm ổn hơn nhiều.
Franz hỏi thẳng: “Khủng hoảng này sẽ ảnh hưởng đến đế quốc đến mức nào?”
“Hiện tại chúng thần chưa nắm rõ, nhưng e là còn nghiêm trọng hơn cả năm 1848. Lần này quy mô rõ ràng lớn hơn nhiều. Ngoại trừ số ít doanh nghiệp nhà nước, toàn bộ ngành đường sắt đều đối mặt nguy cơ tê liệt. Hơn nữa, khủng hoảng đã lan từ đường sắt sang các lĩnh vực khác.”
Năm 1848 – đối với Franz, đó là con số khủng khiếp. Khi ấy, nhà Habsburg suýt bị lật đổ, Franz trong cơn phong ba bão táp mà lên ngôi. Mười mấy năm sau, Áo phát triển lận đận, chỉ mới gần đây khởi sắc, chưa kịp hưởng bao ngày yên ổn thì kinh tế lại khủng hoảng.
Thực tế, việc khủng hoảng tư bản chủ nghĩa bùng phát ở Áo chẳng có gì lạ. Chu kỳ khủng hoảng là trò chuyền hoa nóng bỏng tay, mà Đế quốc Áo–Hung công nghiệp hóa ngày càng sâu, tất nhiên khó tránh khỏi.
Sự phồn vinh trước khủng hoảng vốn là giả tạo, vay mượn trước ăn sau, thị trường tài chính và chứng khoán méo mó, lâu ngày treo ở mức cao bất thường.
Khủng hoảng kinh tế năm 1873 chính là một biến cố thế giới, ý nghĩa sâu xa. Nó bùng phát từ các quốc gia công nghiệp, rồi lan truyền sang các nước khác. Bất cứ quốc gia nào tham gia thị trường thế giới đều bị ảnh hưởng.
Ngoại lệ chỉ có Viễn Đông, Nam Mỹ… Vốn dĩ lịch sử ghi chép rằng châu Phi cũng thoát nạn, nhưng do sự tồn tại của Vương quốc Đông Phi, lần này châu Phi cũng không tránh khỏi, cộng thêm Ai Cập và các quốc gia Bắc Phi, đều bị cuốn vào cơn khủng hoảng.
Nguyên nhân Áo trở thành điểm bùng phát đầu tiên, hoàn toàn do quốc tình. Công nghiệp hóa chậm, tài chính hỗn loạn, lại thêm chế độ lưỡng nguyên Áo–Hung, khiến việc quản lý tài chính lỏng lẻo hơn các nước khác.
Ở các nước khác, tư bản còn biết ôm nhau lừa dân, chờ mình rút lui an toàn. Còn trong nội bộ Áo–Hung, dân tộc chồng chéo, phe phái phân tán, các nhà tư bản lại thiếu đạo nghĩa, nghi kỵ lẫn nhau, cạnh tranh ác liệt. Thế là Sở Giao dịch Vienna nổ tung trước tiên. Đúng kiểu “chết bạn còn hơn chết ta”!
Tuy kinh tế các nước đều có vấn đề, nhưng kẻ nào lừa giỏi, khủng hoảng đến muộn. Rõ ràng, ngân hàng và doanh nhân ở Vienna chẳng bằng những cáo già ở Anh, Pháp, Mỹ.
Khủng hoảng ở Áo–Hung nổ ra, chắc chắn trước tiên ảnh hưởng đến nghiệp vụ của Tập đoàn Hechingen. Có thể khẳng định rằng, xuất khẩu lương thực từ Đông Phi sẽ chịu đòn nặng nề, vì khủng hoảng lần này kéo theo khủng hoảng nông nghiệp.
Trước vốn đã gay gắt: lương thực Bắc Mỹ, Nga Sa Hoàng, Úc cạnh tranh khốc liệt, nay lại thêm “tay chơi mới” Đông Phi khuấy động. Cơn khủng hoảng nông nghiệp ắt sẽ càng dữ dội.
Ngay ngày Sở Giao dịch Vienna sụp đổ, Ernst đã nhận được tin. Tất cả doanh nghiệp dưới trướng Hechingen lập tức hạ giá sản phẩm, mở màn cuộc chiến bán phá giá.
Cần chú ý rằng doanh nghiệp thực phẩm của Hechingen không chỉ kinh doanh ở Đông Phi, mà còn tại Đức và Áo–Hung. Hechingen vốn là nhà phân phối lương thực lớn nhất ở toàn cõi Đức. Vì vậy, khi Hechingen mở chiến dịch bán phá giá, không chỉ Đông Phi, mà cả Đức và Áo–Hung cùng bị cuốn vào.
Đông Phi, Đức, Áo–Hung – ba quốc gia sản xuất lương thực trọng yếu. Từ khi Hechingen khai hỏa, lượng lớn nông sản giá rẻ cùng tràn vào châu Âu.
Đồng thời, Đông Phi cũng gấp rút “thương lượng” (thực chất là mệnh lệnh) với Vương quốc Hồi quốc Zanzibar, thông qua kênh này đẩy lương thực sang toàn cõi Ả Rập và một phần Đông Nam Á.
Hechingen tung chiêu chớp nhoáng, khiến cả thế giới trở tay không kịp, giá lương thực quốc tế rơi thẳng xuống vực.
Ernst thì chẳng hề sợ hãi. Cho dù có ai muốn tính sổ, cũng phải kéo cả Đức và Áo–Hung xuống, mà đám địa chủ Junker và địa chủ Hung gia vô tình lại thành kẻ hưởng lợi, nên chuyện ấy bất khả thi. Ngược lại, càng đẩy mạnh khủng hoảng lương thực, càng đúng ý Ernst, bởi Đông Phi vốn không theo cơ chế kinh tế tự do, khủng hoảng chẳng gây hại được.
Dù giá lương thực sụt giảm làm Ernst mất đi khoản lợi nhuận khổng lồ, nhưng ít nhất còn bán được hàng, vẫn có lời. Chỉ cần chậm một bước, thì chẳng còn chuyện lời lãi, thậm chí lỗ nặng, trừ phi… cho không.
Trên thực tế, nông sản Đông Phi, chỉ cần bán ra được một xu, Tập đoàn Hechingen liền có thêm một xu lợi. Đây là kết quả của cơ chế kinh tế đặc thù Đông Phi.
Một khi lương thực rời khỏi Đông Phi, lập tức được tính vào Hechingen, chẳng còn dính dáng gì đến Vương quốc Đông Phi. Chi phí đất đai vốn do cướp mà có, lao động thì cưỡng bức dân bản địa, nông dân Đông Phi chỉ duy trì mức sống cầm hơi. So với nguồn lợi họ đem về cho vương thất Hechingen, nhu cầu của họ chẳng thấm vào đâu.