Ngoài sông Orange, sông Tugela cũng là đường phân giới tự nhiên giữa Đông Phi và thuộc địa Cape Town. Con sông này bắt nguồn từ lãnh thổ Lesotho rồi chảy ra Ấn Độ Dương.
Tugela rộng lớn, nước chảy xiết, trên dòng sông còn có thác Tugela – về sau nổi danh khắp thế giới. Dòng nước đổ từ vách dựng đứng của dãy Drakensberg, tạo thành cụm thác với tổng độ chênh lệch 944 mét, chỉ kém thác Angel, xếp hạng hai toàn cầu.
Chính bởi vậy mà địa thế lưu vực Tugela hiểm trở đến cùng cực, đối với quốc phòng Đông Phi có tác dụng che chở rất lớn.
Phía bắc Tugela, công trình xây dựng cảng New Hamburg đã hoàn tất, quy mô mau chóng sánh ngang hai hải cảng lớn là Maputo và Durban, trở thành một trong ba đô thị phồn hoa bậc nhất khu vực.
Ngoài khơi New Hamburg, một chiếc tàu quan sát của thuộc địa Natal (Anh quốc) lượn vòng do thám, dõi theo hải cảng vừa quen thuộc vừa xa lạ này. Sau lưng nó, một chiến hạm Đông Phi bám chặt, đề phòng người Anh giở trò.
Song, người Anh cũng chẳng ngu dại. New Hamburg vốn là cảng lưỡng dụng quân – dân, khả năng phòng thủ cực mạnh. Ngoài hải quân đồn trú, riêng pháo đài di động dựng ngay cửa ngõ đã có thể thủ vững như "một người chặn, vạn người khó qua".
“Cái cảng mới này, nhìn từ ngoài vào, cấu trúc chẳng khác Durban là mấy, đều dạng miệng hẹp bụng rộng như chiếc kèn đồng, cực kỳ hợp làm căn cứ hải quân. Tại sao khi trước chúng ta lại chẳng coi trọng? Lại để người Đức được lợi?”
“Ngài Wilke, việc này dễ hiểu thôi. Bởi chúng ta vốn đã có Durban, mà điều kiện tự nhiên nơi đó tốt hơn hẳn vùng vịnh này.”
“Nhưng xét theo thành quả xây dựng thì tôi chẳng thấy New Hamburg thua Durban ở điểm nào cả.”
“Đúng là bản thân điều kiện tự nhiên của New Hamburg kém hơn Durban. Nhưng Đông Phi lại dốc sức quá lớn, nhất là dân số tăng nhanh, khiến năng lực cải tạo Durban trở nên rất mạnh, nhờ vậy khắc phục được những hạn chế.”
Hiện nay, dân cư New Hamburg khoảng ba vạn, cộng thêm người Zulu thì chừng bảy vạn. Đầu tư Đông Phi đổ vào cực lớn, đặc biệt tuyến đường sắt khiến thành phố trở nên sầm uất lạ thường.
“Quả thật người Đức giỏi hạ tầng. Vài năm trước, ta còn nhớ bờ biển Zulu vương quốc hoang vu, nơi gọi là ‘New Hamburg’ chẳng qua chỉ là một vịnh bị bỏ hoang, còn kém xa Durban. Lại thêm vùng đầm lầy phía nam khiến tình trạng bồi lắng nghiêm trọng. Thế mà qua bàn tay cải tạo của người Đức, chỉ thêm ít năm nữa, New Hamburg chắc chắn sẽ vượt Durban, trở thành đô thị phồn thịnh nhất khu vực này.”
Vùng đầm lầy phía nam cảng đã được Đông Phi cải tạo. Hơn hai vạn người Zulu khổ công ba năm ròng, cuối cùng mở ra vùng nước sâu rộng tới ba km².
Phía bắc, con kênh nối liền hồ nước cũng hoàn thành, điều kiện New Hamburg cải thiện rõ rệt, diện tích khả dụng đã vượt Durban. Mà đó vẫn chưa phải cực hạn, bởi ở khu đầm lầy phía nam còn có hồ rộng năm km² chưa khai phá.
Wilke tỏ ý bực tức: “Người Đức chẳng lẽ là cỗ máy sinh sản sao? Mỹ chưa chứa nổi họ, nay lại tràn sang chiếm chỗ ở châu Phi!”
“Ngài Wilke, sự phát triển Đông Phi gắn chặt với sự bùng nổ dân số Đức. Trong cuộc chiến lần trước, họ có thể động viên mấy vạn binh lính, chứng tỏ dân số bản thổ ít nhất đã hơn mười vạn. Chỉ riêng New Hamburg đã có mấy vạn, còn Dar es Salaam và Mombasa chắc chắn đông hơn. Cộng thêm các cảng khác, riêng ven biển Đông Phi e rằng đã có hàng chục vạn người.”
Enlai – lão thủy thủ quen lăn lộn ven bờ Ấn Độ Dương – hiểu khá rõ các cảng Đông Phi, nhất là hai thương cảng tự do Dar es Salaam và Mombasa. Ông tin rằng mỗi nơi đều vượt mười vạn dân, ngang tầm những đại cảng châu Âu.
Nghe vậy, Wilke cảm thấy tình hình nghiêm trọng. Nếu đúng thế, Đông Phi hoàn toàn có thể từ nội lục đánh xuống Nam Phi. Dân số da trắng của họ e rằng đã vượt một triệu. Con số ấy tuy chẳng đáng gì so với châu Âu, nhưng ở châu Phi, ngoài Ai Cập cùng một vài nước Bắc Phi, khó có nơi nào sánh kịp.
Enlai lại nói: “Nhưng sự việc cũng chưa hẳn nghiêm trọng đến vậy. Cấu thành dân số Đông Phi phần lớn là người da vàng. Tôi từng tiếp xúc ở Dar es Salaam và Mombasa, có đến nửa là người Đông Á. Vì thế Đông Phi chưa đáng sợ như ta tưởng.”
“Ra là vậy?” – Wilke thở dài – “Nếu nội bộ Đông Phi chỉ dùng dân da vàng cho đủ số, thì dễ hiểu hơn nhiều.”
Không phải Wilke ngẫu nhiên khinh thị người Đông Á, mà là những năm qua, Viễn Đông Empire quá mức bạc nhược. Hết lần này đến lần khác thất bại, khiến người Anh tin chắc chỉ vài chiến hạm là đủ dọa nạt. Bởi thế, khi nghe Đông Phi có một nửa dân là người Đông Á, ông ta liền xem nhẹ.
Tương tự, sức chiến đấu người Nam Á cũng không được người Anh coi trọng, nên việc cai trị Ấn Độ rẻ mạt đến mức đáng thương.
Wilke nào biết, trong quân đội Đông Phi, có đến nửa là di dân Hoa kiều. Họ đã đóng góp to lớn trong mọi cuộc chiến xâm lược, kể cả trận chiến Nam Phi trước đây.
Người Anh không mấy bận tâm cũng là tất yếu. Cuộc chiến Nam Phi, họ xem như là trận đánh giữa người Đức và Boer. Transvaal đánh yếu kém, với họ cũng chẳng có gì bất ngờ. Dù sao, ngay chính "mẫu quốc" Hà Lan còn chẳng dám đứng ngang hàng với Đức. Nếu là bản thân Anh ra tay, ắt sẽ cho người Đức biết ai mới là bá chủ thế giới.
Wilke ngạo mạn nói: “Rốt cuộc vẫn là giống người không xứng. Da đen vốn thấp kém nhất, đến cả Ấn Độ cũng còn mạnh hơn nhiều. Người Đức thật được lợi lớn, thừa lúc chúng ta lơi lỏng châu Phi mà ồ ạt chiếm đất. Nhưng thời gian hưởng thụ của họ chẳng còn bao lâu. Khi Đế quốc giải quyết xong chuyện quanh Ấn Độ và Orange Free State, Đông Phi sẽ biết tay ai mới là kẻ chinh phục hùng mạnh nhất. Đám man di lục địa Đức không tài nào tưởng tượng được đâu.”
Dân số và quy mô đúng là có sức nặng, nhưng người Anh chẳng hề coi đó là tuyệt đối. Ấn Độ, Viễn Đông, thậm chí cả nước Mỹ đều từng nếm mùi thất bại trước họ.
Nhớ lại, thời Mỹ mới lập quốc, Anh từng phong tỏa thương mại, cấm mọi tàu trên sáu mươi tấn xuất cảng. Mỹ phải xoay sang khai thác mậu dịch Thái Bình Dương và Viễn Đông mới phá thế bế tắc.
Song, người Mỹ cũng chẳng quang minh. Chẳng bao lâu sau, họ học theo chính “người cha” Anh quốc, lấy thuốc phiện để cạnh tranh bất chính. Thương nhân Mỹ, nhất là giới Boston, nhờ đó phát tài to.
Chuyện cấm vận thương mại từng khiến Ernst lo lắng. Giờ đây, khi hải quân Đông Phi đã thành hình, cũng có khả năng phản kích, nhưng để không rơi vào thế bị phong tỏa, chuyến đi Áo của Đại công tước Ferdinand càng trở nên quan trọng.
Lệnh cấm vận Mỹ khi xưa là kết quả phối hợp Anh, Tây Ban Nha, Pháp. Do vậy, Đông Phi cần lôi kéo Áo-Hung, để bất cứ quốc gia nào muốn nhằm vào họ cũng phải cân nhắc thái độ của Vienna.
Áo-Hung dẫu lập trường mập mờ, song còn hơn là chẳng có. Ernst vẫn khắc ghi lời dạy: phải biết tự lập, không được quá dựa dẫm. Chỉ khi tự lực cánh sinh mới thực sự vững mạnh.