Trên bờ biển phía tây châu Phi, bốn chiếc thuyền lặng lẽ tách khỏi đội tàu buôn nô lệ từ Đông Phi đi Bắc Mỹ, rồi hướng vào một vịnh biển mà neo đậu.
Walvis Bay (Kình Loan Cảng) có hình thế đặc biệt: một lối vào hẹp kéo dài ăn sâu vào Đại Tây Dương, cả vịnh giống như một cánh tay khổng lồ vươn ra biển, cửa vịnh quay về hướng bắc, dễ nhận biết đến mức hầu như tàu bè đi ngang đều có thể phân biệt.
Thực ra từ năm 1487, nhà hàng hải người Bồ Đào Nha Bartolomeu Dias – một trong những người mở màn cho Thời đại Hàng hải – đã phát hiện ra Walvis Bay. Trước thế kỷ 18, người Hà Lan cũng từng khảo sát nơi đây nhưng rồi bỏ dở. Vị trí nổi bật, song chưa từng được coi trọng.
“Đây chính là Walvis Bay, cảng nước sâu duy nhất từ Angola đến Nam Phi. Chúng ta đo được đa số khu vực có độ sâu hơn mười lăm mét, cửa vịnh rộng gần mười cây số, hoàn toàn có điều kiện xây dựng một hải cảng lý tưởng!”
Song những con số đó không khiến thủy thủ Đông Phi yên lòng. Phía đông vịnh, đất liền trải dài một màu trắng mênh mông của sa mạc, chỉ lác đác ít mảng xanh.
“Mà bảo sao Điện hạ lại nói nơi này khắc nghiệt, vẫn chỉ là sa mạc… nhìn qua thì có chút giống Mogadishu, nhưng…”
“Mogadishu còn đỡ, vì có sông Shebelle nuôi dưỡng, chứ nơi này thì khác xa.”
Nếu chỉ đứng ở góc độ du ngoạn, cảnh trí Walvis Bay khá mỹ lệ: cát trắng tinh khôi nối liền với nước biển xanh biếc, khiến lòng người thư thái. Nhưng vẻ đẹp ấy không thể thay đổi sự thật: nơi đây là sa mạc.
Andre dùng chân hất mấy khúc xương động vật ven bờ rồi nói: “Muốn tìm nước ngọt e là phải tốn công, chẳng biết bao giờ người ở tỉnh Letania mới khai thông được tuyến vận chuyển tiếp tế.”
Nhờ Đường sắt Trung ương Đông Phi, việc vận chuyển nay tiện lợi hơn, nhưng đó chỉ tính cho vùng nội địa Đông Phi. Tuyến kéo dài về phía tây lại gần Angola hơn, còn phía tây nam, biển cát mênh mông khiến Đông Phi chưa mấy mặn mà xây dựng thêm đường sắt. Hậu cần muốn đưa tới Walvis Bay tất phải trung chuyển qua Letania.
Letania nằm trên cao nguyên. Muốn từ đó tiếp tế đến Walvis Bay phải vượt qua hàng trăm kilomet sa mạc. Hướng đông bắc tuy gần hơn, nhưng toàn bộ là sa mạc Namib, gần như nối liền với sa mạc Kalahari.
Thuyền trưởng Chris ra lệnh: “Giờ chia hai nhóm, hai mươi đội tìm kiếm trong phạm vi hai mươi kilomet. Nhóm một đào tìm nguồn nước ngầm, nhóm hai dò xem có ốc đảo hay sông ngòi nào không. Quan trọng nhất là nước ngọt. Nước trên tàu phải dè sẻn.”
Đông Phi vốn có nhiều kinh nghiệm tìm nước ở vùng khô hạn, học từ cả thổ dân châu Phi lẫn người Ả Rập. Rất nhanh, họ phát hiện hàng chục điểm khả nghi dựa theo thảm thực vật, nhưng đào xuống vài mét vẫn thất vọng.
Tuy vậy, phía bắc lại có tin vui.
“Khoảng hơn hai mươi cây số về phía bắc có một ốc đảo, bên cạnh còn có một con sông khá lớn, hai bờ đất đai màu mỡ, cây cối xanh tốt!”
Ấy chính là sông Swakop, một trong những con sông quan trọng ở Namibia về sau, bắt nguồn từ núi trong đất liền, chảy qua sa mạc Namib. Tuy nhiên, lưu lượng nước thất thường, đôi khi cạn trơ đáy.
Trong tiền kiếp lịch sử, Swakopmund – một thành phố cảng do người Đức lập năm 1892 – cũng nằm tại cửa sông này. Thoạt đầu còn quan trọng hơn cả Walvis Bay, song dần bị thay thế do tình trạng bồi lấp.
“Thuyền trưởng, vùng ốc đảo phía bắc rõ ràng tốt hơn Walvis Bay. Ở đó ít nhất đã giải quyết được nước uống. Nhưng Walvis Bay là nơi Điện hạ đích thân dặn phải chiếm giữ. Ta nên chọn thế nào?”
Chris trầm ngâm rồi đáp: “Chọn chi cho khó? Người chúng ta không ít, hãy dựng cứ điểm cả hai nơi. Nếu ở đây thật sự không có nước, thì cũng có thể vận chuyển từ phía bắc về.”
Song ý nghĩ ấy nhanh chóng thay đổi, bởi chỉ ít lâu sau, một hố sâu hơn chục mét đào xuống đã trào ra dòng nước ngọt.
“Có nước rồi! Có nước rồi!”
Chris vội tới nơi, nhìn dòng nước trong lành rỉ ra từ lòng đất, mừng rỡ hô: “Lấy vật liệu trên tàu, chống sập miệng giếng, kẻo cát lấp!”
Thủy thủ ghép ván gỗ làm vách ngăn, phủ thêm nắp gỗ. Vậy là vấn đề nước giải quyết xong.
“Giờ Walvis Bay đủ điều kiện lập cứ điểm. Còn nơi phía bắc thì sao?”
“Tất nhiên vẫn phải chiếm. Khoảng cách không xa, để lọt vào tay địch thì hối chẳng kịp.”
Thực tế, trong lịch sử Walvis Bay là thuộc địa của Anh, cho thấy ở đây vốn có nguồn nước ngầm, bằng không sao duy trì được.
Đối với Đông Phi, cả Walvis Bay lẫn cửa sông Swakop đều quan trọng. Walvis Bay có ưu thế về hải cảng nước sâu, còn vùng cửa sông lại nhiều nước ngọt.
Hai tháng sau, tỉnh Letania liên lạc được với đội thủy thủ ở Walvis Bay. Công cuộc xây dựng chính thức bắt đầu. Một pháo đài kiên cố mọc lên, cảng mới được đặt tên là Cảng Kình Loan – cái tên được Ernst cho là vô cùng thích hợp.
Đông Phi đồng thời khai khẩn cả hai vị trí. Song hành động ấy không thể che mắt thuộc địa Cape của người Anh. Họ vốn đã định năm sau sẽ chiếm Walvis Bay, nay thấy Đông Phi nhanh chân, không khỏi bất bình.
Khi phái đoàn Cape tới khảo sát, nơi họ nhớ từng là vùng đất hoang vu nay sừng sững một pháo đài quân sự. Người Anh chỉ biết ngậm ngùi quay về Cape Town, báo cáo với Tổng đốc.