Hành động của Đông Phi khiến Cape Town nhảy dựng lên, nhưng chỉ dựa vào sức mình thì không có cách nào đối phó với gã khổng lồ này. Dù vậy, Cape Town cũng không cần quá bi thương, bởi Đông Phi không hề nhằm riêng vào họ; trên thực tế, người Bồ Đào Nha ở Angola cũng đang nơm nớp lo sợ.
Tỉnh Letania cách cảng Walvis Bay rất xa, giữa ngăn cách bởi sa mạc mênh mông. Tuy nhiên, vùng giáp ranh giữa miền tây Letania, Namibia và Angola lại có điều kiện khí hậu tương đối khá. Nhìn bản đồ Namibia là thấy rõ, hầu hết các con sông quan trọng đều tập trung ở phương bắc.
Dù các con sông này đa phần là sông theo mùa, nhưng vùng cao nguyên phía bắc diện tích rộng lớn, lượng mưa miễn cưỡng cũng đạt khoảng 500 mm. Trái lại, miền nam tuy cũng có cao nguyên, nhưng còn có thêm núi non, chính dãy núi ấy khiến Đông Phi khó lòng từ phương đông trực tiếp tấn công Namibia.
Hãy thử tưởng tượng: vượt qua sa mạc Kalahari đầy gian khổ, phía trước lại gặp dãy núi trùng điệp, vượt núi cao nguyên rồi vẫn chỉ là sa mạc… Loại tuyệt vọng này không thể dựa vào ý chí mà bù đắp được. Vì thế, khi xâm chiếm Namibia, Đông Phi mới áp dụng con đường vừa đường biển vừa đường bộ.
Phía tây tỉnh Letania là vùng cao nguyên mà đời sau gọi là Ovamboland của Namibia – khu vực nông canh quan trọng bậc nhất, có thể trồng kê, cao lương, khoai, sắn và nuôi sống khoảng 30% dân số cả nước.
Tầm quan trọng của vùng này đối với Namibia là không cần bàn cãi: tỉ lệ tự cung tự cấp lương thực của Namibia chỉ khoảng 20%, và phần lớn 20% ấy đều từ Ovamboland mà ra.
Không khó hiểu khi người Bồ Đào Nha chê bai Namibia, bởi xét theo chi phí thuộc địa thì đúng là mảnh đất “nát”, song đối với Đông Phi thì lại hoàn toàn khác.
Ý nghĩa của biển cả vốn không cần nhiều lời. Nếu chiếm được Namibia, Đông Phi lập tức trở thành quốc gia hai bờ đại dương. Còn khí hậu khắc nghiệt của Namibia, với Đông Phi chẳng phải vấn đề. Đất canh tác nông nghiệp của họ đã quá dồi dào, không cần tăng thêm. Giống như khi định vị vùng Nam Phi trước kia, họ không hề chú trọng phát triển nông nghiệp quy mô lớn.
Tháng 4 năm 1877.
Đông Phi đồng thời quy hoạch khu vực rừng mưa Congo, thành lập thủy quân nội địa trên sông Ubangi, tiến hành tuần tra thường nhật trên sông Congo và Ubangi. Điều này đồng nghĩa Đông Phi đã hoàn toàn coi lưu vực Congo phía đông Ubangi là lãnh thổ của mình.
Trên toàn cục phương tây, Đông Phi giữ thế tấn công, nhờ có đường sắt mà năng lực vận chuyển tăng mạnh, đặc biệt là đoạn phía tây tuyến đường sắt trung tâm, vươn thẳng đến gần Angola rồi dừng lại giữa chừng, giống như một tuyến đường sắt cụt.
Lý do đường sắt lại xây dựng như vậy, ý đồ đã quá rõ ràng: tham vọng với Angola đã không cần che giấu.
…
Tháng 5 năm 1877.
Bloemfontein.
Dưới sự thuyết phục của người Anh, Orange Free State tiến hành cuộc bỏ phiếu cuối cùng về việc có sáp nhập Cape Colony hay không.
“Kết quả: 1.308 phiếu thuận, 230 phiếu chống, 415 phiếu trắng. Ta tuyên bố từ hôm nay, Orange Free State giải thể, tự động gia nhập Cape Colony.”
Tổng thống Brand đích thân tuyên bố giải tán nước Cộng hòa Boer cuối cùng, từ đây thế cục Nam Phi biến từ thế chân vạc thành hai hổ đối đầu.
Thực tế, bản thân Tổng thống Brand cũng vô cùng bất đắc dĩ. Ông vốn muốn Orange Free State giữ nguyên quốc thể, nhưng nếu cố chấp làm vậy, nội chiến e rằng sẽ nổ ra ngay ngày hôm sau. Thế nên, sáp nhập với Cape Colony, trong mắt ông, chẳng khác nào nuốt phải độc dược.
Ngoài người Boer, thế lực duy nhất còn sót lại ở Nam Phi chỉ có vương quốc Lesotho, nhưng Lesotho đầu năm đã bị người Anh thừa cơ thôn tính, tuyên bố diệt quốc. Điều này cũng hợp với bản chất của Anh: Lesotho sau khi bị Đông Phi đánh tàn phế đã chẳng còn giá trị lợi dụng, nên họ liền vứt bỏ. Giờ Orange Free State cũng nhập vào Cape Town, người Anh bước đầu thống nhất miền nam Nam Phi.
Những lá phiếu chống trong Orange Free State chủ yếu là tiếng nói không muốn chung thuyền với người Anh. Trong mắt họ, Đông Phi có thể không tốt, nhưng người Anh chắc chắn là kẻ xấu. Còn đa số phiếu trắng đến từ những người muốn tránh dính vào tranh chấp Anh – Đức, mong Orange Free State duy trì trung lập.
Tuy nhiên, lực lượng phản đối và trung lập đều quá yếu. Đa số người Boer, đặc biệt là những kẻ bị Đông Phi đánh bật khỏi Transvaal rồi chạy sang Orange Free State, đều căm hận Đông Phi tận xương tủy. Bị làn sóng thù hận ấy dẫn dắt, đại bộ phận dân chúng Orange Free State cũng theo đó mà ngả về phía chống Đông Phi.
Thế là, dưới sự mớm lời của người Anh, Orange Free State chẳng chút do dự mà ngả vào vòng tay Cape Colony, trở thành một bộ phận của thuộc địa Anh.
Trong thế “trước sói sau hổ”, rõ ràng Anh quốc đáng sợ hơn Đông Phi. Hơn nữa, những gì Đông Phi từng làm ở Transvaal, Orange Free State đều biết rõ, chẳng ai muốn đi vào vết xe đổ.
Đặc sứ Cape Town – Reint tuyên bố: “Người Boer đã đưa ra quyết định đúng đắn. Từ nay, các vị chính là huynh đệ ruột thịt của chúng ta. Chúng ta sẽ cùng nhau bảo vệ trật tự và hòa bình tại Nam Phi.”
Để lôi kéo người Boer, người Anh thậm chí còn “chơi lớn”: đồng ý chia đôi lợi ích từ mỏ kim cương bên sông Orange, dù trên danh nghĩa vẫn do họ quản lý để trang trải quân phí, hứa ba năm sau sẽ giao lại phần ấy cho người Boer.
Đồng thời, Anh quốc cũng cam kết xóa bỏ các khoản nợ cũ, điều này với Orange cực kỳ quan trọng. Tài chính của Orange Free State vốn cạn kiệt chẳng kém Transvaal, thường xuyên thâm hụt nên phải vay của người Anh, chứ tuyệt đối không thể đi vay từ các bộ tộc bản địa như Zulu.
Hơn nữa, Toàn quyền Cape Town – Henry Barkly còn hứa hẹn rằng người Boer sẽ có địa vị ngang hàng với công dân Anh, quyền lợi được tôn trọng, tài sản tư hữu được đảm bảo bất khả xâm phạm.
Dĩ nhiên, nếu Ernst có mặt, hắn ắt sẽ cười khẩy: chó quen thói ăn cứt, lời hứa của người Anh cũng vậy thôi.
Thậm chí, thủ đoạn lần này của họ so với đời trước chẳng khác bao nhiêu – chỉ hô khẩu hiệu suông, chẳng đưa ra chút lợi ích thực chất nào, dựa vào tâm lý phản Đông Phi trong Orange Free State để lôi kéo, dễ dàng thâu tóm cả vùng vào tay.
Điều này cũng gần như là tất yếu: vốn dĩ Transvaal đông dân hơn Orange Free State, khi bị Đông Phi đánh bật, làn sóng di dân Boer từ đó đổ sang Orange, nhanh chóng chiếm ưu thế nhân khẩu, chiếm lấy tiếng nói trong chính quyền. Cộng thêm hậu thuẫn của Anh quốc, quyền lực nguyên bản của Boer bản địa ở Orange liền bị gạt sang một bên.
Có thể nói, Đông Phi đã tự đào một cái hố cho mình. Nhưng việc trục xuất người Boer khỏi Transvaal, đối với Ernst, vẫn là lựa chọn tốt nhất. Nếu để họ ở lại trong lãnh thổ Đông Phi, đó mới thật sự là một quả bom hẹn giờ.
Người Boer đã bước đầu hình thành ý thức dân tộc, hoàn toàn trái ngược với chính sách Đức hóa của Đông Phi. Muốn cải tạo họ, cái giá phải trả quá lớn, hiệu quả lại chưa chắc bảo đảm. Thế nên, thà để họ ra đi. Dẫu biết rằng một ngày nào đó, họ có thể trở thành kẻ địch, Ernst vẫn buộc phải làm vậy.